Giáo sư Dương
Thiệu Tống xuất thân từ gia đình có truyền thống Nho học, được tiếp cận một phần
tinh hoa văn hóa Đông phương từ gia đình, và hấp thu văn hóa Tây phương của nhà
trường thời Pháp thuộc qua những người thấy từng du học tại Âu - Mỹ nhưng vẫn
còn giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc như: Tạ Quang Bửu, Hà Thúc Chính, Phạm
Đình Ái, Nguyễn Thúc Hào… Ông đã chọn con đường lập thân là dạy - học để góp phần
vào sự nghiệp giáo dục và văn hóa nước nhà.
Cuốn sách “Thuở
Ban Đầu” của ông gợi cho chúng ta một bức tranh tuy cũ nhưng rất sinh động
về dạy và học trong những măm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Các trường học
thời đó, do hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt phải dời từ thành phố về nông thôn
và luôn di chuyển ở vùng rừng núi (ví máy bay Pháp thường bắn phá). Thời ấy,
nhà giáo đã sống trong những tháng ngày gian nan khốn khó nhưng đã vận dụng hết
khả năng để sáng tạo và cố gắng vượt bực để giải quyết một vấn đề nan giải là:
Phải tiếp tục giảng dạy trong tình trạng thầy không có trường, trò không có
sách, và cả thầy lẫn trò đều không có nhà để ở. Tuy vậy, tình nghĩa thầy trò
sâu đậm hơn bao giờ hết, thầy giáo được sống trong sự đùm bọc yêu thương của quần
chúng lao động nghèo khổ. Truyền thống Tôn sư trọng đạo được
thể hiện rất rõ nét và rất cảm động. Họ là những con người tuy nghèo khó, ít học,
nhưng vẫn thấy tầm quan trọng của sự học và luôn luôn mong mỏi con em mình được
học hành chu đáo. Quan niệm của phụ huynh của ngày ấy có nhiều ưu điểm hơn ngày
nay, cha mẹ cho con em đến trường không những chỉ có mục đích tiếp thu kiến thức
mà còn được những nhà giáo đáng kính dạy làm người. Thế hệ nhà giáo như ông lúc
đó phải cố gắng hết sức - tuy tuổi mới hai mươi - nhưng đã phải nhận trách nhiệm
đóng vai khả kính. Vậy mà phần nào đã đáp ứng được sự mong mỏi của họ. Quan niệm
này, hôm nay đáng làm cho chúng ta phải suy ngẫm.
Học trò ông đa
số là con nhà nông, ít có điều kiện học tập, nhưng nhờ vào sự tận tâm, sự khuyến
khích và khen ngợi của ông nên đã tự tin, quyết chí học hành nên sau này đã có
nhiều người thành đạt. Một người học trờ cũ có tên là Hải, năm 1985 tìm đến
thăm ông tại nhà, thầy trò hội ngộ sau gần 40 năm khói lửa. Anh ta vẫn còn giữ
lại tấm học bạ cũ đã sờn rách, trong đó có lời phê của ông 36 năm trước. Người
học trò cũ đã đưa ông xem và nói rằng: “Con được thành đạt như ngày hôm
nay chính là nhờ lời phê của thầy”. Trong tấm học bạ ấy, ông đã phê: “Học
sinh xuất sắc, rất nhiều hứa hẹn. Nếu chịu khó học tập sẽ có một tương lai xán
lạn”. Đúng như lời ông nhận xét, anh ấy năm 1985 đã là Phó Tiến sĩ và đang
làm cán bộ giảng dạy ở Đại học. Một trường hợp đặc biệt nữa. Một học sinh có
năng khiếu về ngoại ngữ, chỉ kém ông chừng ba, bốn tuổi, con của một lão nông
hiếu học, trọng thầy. Nhờ ông dìu dắt và chỉ bảo tận tình mà sau này trở thành
một trí thức có tầm cỡ. Người này chính là Phi Bằng, Biên tập viên cho một tờ
báo nổi tiếng quốc tế là Far Eastern Economic Review (Tạp chí Kinh tế Viễn
Đông)
Trong “Thuở
ban đầu” có một chương dành hẳn cho một con người lạ lùng và độc đáo
có tên là Hĩm Su. Anh ta là học trò ngoài đời của giáo sư Dương Thiệu Tống. Vốn
học vấn của Hĩm Su chỉ mới đến lớp Nhì (tương đương với lớp Bốn bây giờ), anh
có nghề làm giò chả và kiêm luôn nghề y tá tư. Tuy đã quá tuổi học đường và đã
có vợ con nhưng anh là người khát khao hiểu biết, đặc biệt là muốn biết đến nơi
đến chốn nhiều lĩnh vực và không bao giờ thoả mãn với những câu trả lời không
được rõ ràng của nhiều nhà giáo thời ấy. Lí thuyết về Cơ học lượng tử ở thập
niên bốn mươi đối với nước ta còn rất mới mẻ, thậm chí không mấy thầy giáo
trung học hiểu thấu đáo, thế mà anh bán giò chả này lại cố công học hỏi và thường
bàn đến. Tất nhiên, với trình độ của anh, anh chỉ hiểu đại cương về nó thôi.
Xét như vậy, cũng làm cho chúng ta thán phục trước sự học hỏi vô vị lợi của anh
rồi. Hĩm Su đã được ông không tiếc công sức chỉ dẫn tận tình về một số lĩnh vực
mà ông am hiểu - nhất là việc giảng dạy tiếng Pháp. Chỉ trong một thời gian không
lâu, anh đã đọc được sách báo viết bằng tiếng Pháp. Ông cho biết, nếu Hĩm Su có
điều kiện học tập một cách có căn bản, có hệ thống và được học đến nơi đến chốn
thì anh bán giò chả này sẽ trở thành một nhà bác học, một khoa học gia không mấy
gì khó khăn.
Bằng chứng là
có một học sinh cũ của ông trở thành giáo sư Đại học ở một nước lớn. Và lí thú
thay khi du học ở Mỹ, ông gặp lại người học trò cũ. Lúc ấy, ông là sinh viên
còn người học trò cũ là giáo sư đại học của một nước kế cận. Ông giáo sư đại học
này hồi còn là học sinh của ông ở bậc Trung học không phải là một học sinh xuất
sắc nhất xét theo tiêu chuẩn của trường trung học lúc bấy giờ, nhưng lại giống
với anh Hĩm Su về phương pháp và thái độ học tập. Điều này làm chúng ta liên tưởng
đến thái độ học tập của phần lớn học sinh hiện nay. Họ hầu như không nêu ra những
điều thắc mắc, hoặc học hỏi để hiểu vấn đề cho sâu sắc hơn nữa.
“Thuở ban đầu” còn
có những trang ông viết về những lời dạy bảo của cha một cách sinh động mỗi khi
ông gặp khó khăn trong nghề nghiệp. Cha ông là một người uyên thâm Nho học
nhưng rất phóng khoáng, cụ thường dẫn giải kinh điển Nho giáo một cách sáng tạo
chứ không gò bó như các nhà Nho thuở xưa. Thật ra, lúc ấy giáo sư cũng không
tin tưởng mấy về những huấn điều của Nho giáo, có lúc còn muốn tranh luận với
cha mình. Mãi về sau, khi ngồi tại những trường đại học lớn của Hoa Kỳ ông đã
được những giáo sư khả kính nước ngoài cho mình thấy giá trị của tư tưởng truyền
thống giáo dục của Đông phương. Lúc bấy giờ, ông mới thấy được giá trị trong những
lời giáo huấn của cổ nhân. Những câu nói to tát, dài dòng của các nhà giáo dục
Tây phương đã được Khổng Tử cô đọng lại thành những câu châm ngôn để dạy cho
môn đệ mình cách đây hơn 2500 năm. Ông rất hối tiếc! Một kho tàng văn hoá dân tộc
sống động, gần gũi ông nhất, đã hé mở cho ông thấy lúc còn thanh xuân, nhưng vì
ảnh hưởng Tây học, ông đã vô tình khép lại.
Trong lịch sử
giáo dục của đất nước, kể từ người thầy Chu Văn An cho đến thế hệ của thầy ông
như: Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Hà Thúc Chính, Nguyễn Thúc
Thào…, thế hệ đàn anh của ông như: Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Khắc Viện…, cho đến
thế hệ của ông, là còn liên lạc được với suối nguồn của truyền thống. Thật
không nói quá lời rằng, thế hệ của thầy ông và thế hệ của ông là hai thế hệ nhà
giáo dục mẫu mực nhất trong nền giáo dục Việt Nam thời hiện đại. Tôi muốn ví họ
như một loài chim quý sắp bị tuyệt chủng. Trước tình cảnh ấy, chúng ta phải làm
gì?
(*) NXB
Trẻ TP. HCM - 1999
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét