Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

CHIẾC LÁ THU PHAI

Chiều nay thức dậy, nhìn thấy âm u và hoang vắng quanh đây, những ca từ trong Xa Dấu Mặt Trời của Trịnh Công Sơn từ cõi mênh mông vô thức ùa về.

Hôm nay thức dậy không còn thấy mặt trời
Không còn thấy loài người
Vây phủ quanh đời
Nói tiếng yêu thương.

Hôm nay thức dậy không còn thấy mặt trời
Không còn thấy một người
Hơi thở ru đời
Như gió ru mây

..............

Hôm nay thức dậy không nhìn thấy mặt trời
Hay mình đã lạc loài
Vó ngựa trên đời
Hay dấu chim bay...
Xa Dấu Mặt Trời là nhạc phẩm mà tôi thường cất lên vào những chiều đông mưa gió mịt mùng trong cái nông trại hoang sơ hiu hắt ở thôn Trung Đàn tự thuở mới ngoài đôi mươi. 

Như trong chớp mắt mà đã hơn ba mươi năm trôi qua, dòng sông đời cũng cuốn trôi về biển cả những gì thuộc về thời đầu xanh tuổi trẻ. Trong chiều xuân lành lạnh nhưng có "gió heo may" thổi về, tôi ngồi đây như một ẩn sĩ giữa phố thị cô liêu với mái tóc đã trở thành lau trắng, rồi bỗng nhiên muốn nghe lại Chiếc Lá Thu Phai. 

Bài nhạc Chiếc Lá Thu Phai tuy nghe rất buồn nhưng không phải là cái buồn da diết, ủy mị, buốt xé da thịt mà là cái buồn sâu lắng mênh mông... Với tôi, mỗi khi nghe dòng nhạc này của TCS thì cũng chính là lắng nghe tiếng lòng của mình; trong phút chốc, cái bản ngã bé nhỏ của mình dường như tan biến, cõi lòng nhẹ nhàng và niềm yêu thương trải rộng đến vô biên.

Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

LAN MAN CHUYỆN ĐỜI SAU TẾT GIÁP NGỌ - 2014

Một cái Tết lại trôi qua! Hôm nay là ngày mười một tháng giêng, ngoài kia mọi sinh hoạt đã trở về trong vẻ thường nhật; tôi ngồi đây tâm trí đủ tĩnh lặng để “phát lại” đoạn phim đã thu vào trong nửa tháng qua cùng đôi dòng cảm nghĩ.

Thời tiết trong những ngày cuối tháng chạp tốt lành báo hiệu cho những ngày Tết đến đầy nắng ấm tươi vui, nhưng người dân Tam Kỳ không náo nức đón xuân sang như mọi năm trước. Có lẽ do tình hình tài chính không mấy thuận lợi nên gương mặt của người người đều hiển lộ âu lo. Tuy vậy trong những ngày giáp Tết, không khí mua sắm ở các chợ cũng trở nên nhộn nhịp và sôi động hẳn lên. Trong tâm trí người Việt, ba ngày Tết là những ngày quan trọng nhất trong năm, vì thế dù có khó khăn đến mấy đi nữa, người ta cũng mong muốn có một cái Tết đầy đủ với bánh mứt, thịt thà... Nếu gia đình nào không đủ tiền lo Tết thì họ cũng phải xoay xở, vay mượn đâu đó rồi ra năm sẽ tính; cũng nhờ vậy, đến chiều ba mươi Tết những người buôn bán ở chợ cũng giải quyết hết hàng hóa. Người nghèo thường phải chịu thiệt thòi trong chuyện sắm Tết, bởi khi họ chạy ra được tiền thì đã bị trễ chợ, mà càng trễ chợ thì giá cả càng leo thang. Chuẩn bị kết thúc một năm cũ để bước sang một năm mới mà trong lòng đầy nỗi lo toan thì niềm vui làm sao được trọn vẹn. Không biết đến bao giờ giống nòi mình mới biết thương yêu nhau, mới hết cảnh bắt chẹt nhau để dân nghèo bớt khổ?

Tuy kinh tế đi xuống nhưng năm nay tại các địa điểm bán hoa lại bạt ngàn hoa Tết, người mua thì ít nhưng hoa cúc và cam quật thì nhiều không kể xiết. Giới bán hoa năm nay phần đông bị thất bại nặng nề; có người lỗ méo mặt, có người mất sạch vốn. Tôi không có thói quen đi dạo khu bán hoa lớn nhất ở Tam Kỳ vào tối ba mươi Tết nên không chứng kiến những cảnh đau lòng; tuy vậy, trong những ngày đầu năm, tôi đã được người thân kể lại. Đến giờ giao thừa nhưng khu này vẫn còn nguyên cả rừng cam quật và hoa cúc, người đi mua hoa thì ít mà khách đến ngắm chơi thì nhiều. Giả sử, người bán có nhã ý tặng hoa cho tất cả những người có mặt lúc đó thì cũng chỉ vơi đi một phần mười số chậu hoa đang trưng bày la liệt. Một điều đáng buồn là trong những năm gần đây, một số không ít người chơi hoa thường “phục kích” đến sát giờ giao thừa mới đi mua hoa để được giá rẻ; kẻ mua đánh trúng vào tâm lí của người bán: thà bán rẻ để vớt vát chút ít, thà là của đổ hốt lại còn hơn là trắng tay. Nói chung, kẻ mua muốn ép người bán, nếu người bán không chịu bán đổ bán tháo vào thời điểm này thì trước sau cũng phải “bỏ của chạy lấy người” mà thôi.

Năm nay kẻ mua hoa vô cùng nhẫn tâm, họ ép người bán hoa phải bán cho họ bằng một phần năm giá trị hiện thời, một chậu cúc trị giá 250 ngàn đồng nhưng kẻ mua chỉ trả giá chỉ còn 50 ngàn đồng. Một số người bán hoa quyết “thà chết chứ không chịu bị thương”, họ chấp nhận mất sạch nên đã tìm cách đập bể hết các chậu hoa xong rồi mới về nhà. Địa điểm bán hoa nằm tại quảng trường - đối diện với trụ sở của UBND tỉnh Quảng Nam - nên ngay sáng ngày mùng một Tết, công ty môi trường phải huy động rất nhiều xe hốt rác đến, nhân viên vệ sinh phải mất một buổi mới dọn hết cả đống chậu vỡ và hoa cúc nằm ngổn ngang. Nghe nói có một đôi vợ chồng trẻ vay mượn gần hai trăm rưỡi triệu đồng đem mua hoa để bán trong dịp Tết, nhưng từ lúc bắt đầu bán đến lúc kết thúc thương vụ họ chỉ bán được vỏn vẹn có vài triệu đồng. Khi giờ giao thừa đã điểm, đôi vợ chồng trẻ thì chỉ còn biết ôm mặt mà khóc.

Chuyện không đoán được sức mua của thị trường và lời lỗ trong kinh doanh chỉ là chuyện thường tình, nhưng nghĩ đến việc người dân xứ mình đối xử tệ bạc với nhau như vậy, lòng tôi cảm thấy quá ngao ngán. Hành động người dân đổ xô cướp bia ở Biên Hòa và cướp nhãn tươi ở Quảng Bình khi xe tải chở hàng bị lật cách đây chưa tròn ba tháng đã nói lên điều gì? Đất nước này sẽ về đâu nếu tình trạng thừa nước đục thả câu và tình trạng sống chết mặc bay cứ thường xuyên xảy ra? Có quá nhiều trái tim đang bị chai cứng, quá nhiều tâm hồn đang vô cảm trước nỗi đau của đồng loại.

Đêm trừ tịch, nhà tôi không có lệ cúng giao thừa nhưng đến giờ này tôi vẫn có thói quen mở hé cửa và bước ra ngoài trời để hít thở bầu không khí nguyên sơ của giây phút bắt đầu một năm mới. Không có tiếng pháo đì đùng gần xa nên giờ giao thừa đã mất đi nhiều ý nghĩa, tuy vậy nhìn cảnh nhà nhà hai bên phố đã bày hương án, cảnh mọi người xì xụp khấn vái và cầu xin cho một năm đầy an khang và thịnh vượng thì lòng tôi cũng cảm thấy yên vui. Dẫu không tin thánh thần và cô bác phù hộ độ trì nhưng tôi vẫn nhận ra lễ cúng giao thừa là một nét đẹp trong dân gian, một biểu hiện của văn hóa tâm linh trong giờ phút thiêng liêng nhất.

Khi mọi người đã cúng xong, thủ tục đốt vàng mã bắt đầu xuất hiện. Tục lệ đốt vàng mã có lẽ do tính nhân văn mà hình thành, và ngày xưa người ta chỉ đốt một ít giấy vàng bạc cho có lệ. Ngày nay, do tin tưởng là “người cõi âm” sẽ có tiền bạc để chi tiêu và hưởng thụ đầy đủ những tiện nghi như người trần thế nên người ta đốt vàng mã quá nhiều. Khoảng mười năm trở lại đây, đời sống vật chất được nâng lên đáng kể, người dân không còn lo chuyện ăn no mặc ấm nữa mà đã được ăn ngon mặc đẹp. Tuy vậy, tâm thức của cộng đồng đã có chiều hướng đi xuống, tệ nạn mê tín dị đoan bùng phát và hoành hành dữ dội, tục đốt vàng mã theo đó cũng lên ngôi. Từ người có học đến người ít học, từ công chức nhà nước cho đến dân đen, ai ai cũng cúng bái và đốt vàng mã. Người ta đốt vàng mã trong vô số dịp: cúng rằm và mùng một, đám giỗ, chạp mã, cầu an, khai trương, tất niên..., có người còn chi ra cả chục triệu đồng để đốt đi số vàng mã chất đầy cả một xe ba gác. Tôi càng yêu mùi thuốc pháo và màu hồng của xác pháo bao nhiêu thì càng ghét cái mùi khét lẹt của vàng mã bị cháy và màu tro bụi xám đen theo gió vương vãi khắp nơi bấy nhiêu.

Ngày thường, nhiều lúc cảm thấy ngột ngạt với đời sống thế tục, người ta muốn vãn cảnh chùa để tạm lánh xa cảnh bụi trần và tìm thấy sự thanh thản của tâm hồn. Trong dịp đầu xuân, Phật tử đến chùa lễ Phật để nuôi dưỡng hạt giống Bồ Đề và mở rộng lòng từ bi là một nét văn hóa tốt đẹp. Nhưng chùa chiền thay vì là nơi hướng dẫn đời sống tinh thần cho tín đồ lại thành nơi tuyên truyền sự mê tín, có nhiều thầy tu cũng xem ngày tốt xấu, cũng cúng nhương sao giải hạn... Nơi dạy đạo lí Giác Ngộ của bậc từ phụ đã biến thành nơi buôn thần bán thánh và không khí sặc mùi danh lợi. Đức Phật bị biến thành vị thần linh, thiên hạ thi nhau quỳ mọp trước tượng của ngài để cầu xin phước lộc.

Carl Jung - người sáng lập ra trường phái Phân tâm học Miền sâu - đã sáng tạo ra cụm từ “vô thức tập thể”, từ ngữ này nói đến sức mạnh của vô thức trong việc điều động tâm trí của một nhóm người, của một cộng đồng, của một dân tộc... Phải chăng sau một thời gian dài không còn tin vào bất cứ thế lực nào có thể đem đến cho mình hạnh phúc ở chốn trần gian nên hiện nay có quá nhiều người ở đất nước này chỉ còn biết dựa dẫm vào thế lực của thần quyền? Cơn lên đồng tập thể đầy mê sảng này sẽ “di truyền” đến tận đời con cháu, chắt chít... Biết đến bao giờ dân Việt mới thoát ra khỏi cơn rồ dại nói trên?

Ba ngày Tết năm nay thiên hạ ít đi chơi xuân hơn, lượng xe máy đi lại thưa thớt, thành phố có vẻ yên tĩnh. Thời tiết năm nay rất đẹp, có nắng hanh gió nhẹ, bầu trời trong xanh và hoa lá reo vui... Trong khung cảnh yên bình thơ mộng, mùa xuân réo gọi ngoài cửa, hồn tôi bỗng rộng mở thênh thang, những khắc khoải siêu hình dường như đã biến mất. Tết năm nào vợ chồng tôi cũng du xuân, nói du xuân cho vui nhưng thực ra chúng tôi chỉ đi loanh quanh để thăm viếng anh em, bà con mà không dám đi chơi đâu xa. Việc di chuyển bằng xe máy ở Việt Nam có nhiều sự bất trắc, cho nên hạn chế ra đường là cách đề phòng tốt nhất.

Thanh niên bây giờ chạy xe máy rất ẩu tả và không cần tuân theo luật lệ gì cả, có khi chúng uống rượu say mà vẫn chạy xe ào ào. Nhiều lúc mình đang chạy xe yên ổn, đột nhiên xuất hiện một thanh niên ngồi trên chiếc xe máy ngay ở phía sau mình, nó rú ga lạng lách qua mặt làm cho mình giật thót cả tim; khi hỏi ra, mới biết nhiều người cũng bị rơi vào tình trạng như vậy. Tôi đã chứng kiến những cảnh đụng xe, nhiều thanh niên đi sai luật giao thông mà còn hành hung người bị nạn theo kiểu côn đồ. Trước Tết, tôi chở vợ đến siêu thị để mua một ít đồ dùng lặt vặt thì gặp phải chuyện rất bực mình. Hai thanh niên khoảng chừng mười chín, hai mươi tuổi chen lấn vào cái cổng giữ xe của siêu thị, vì chen ngang nên tụi này phải lui lại cho xe tới trước đi vào. Lúc ấy, xe tôi dừng ngay phía sau xe của tụi này, khi chúng lui lại đột ngột thì đụng vào xe của tôi. Tôi liền bảo chúng là: Nếu lui xe lại thì phải xem có ai đứng phía sau mình không chứ, sao chẳng ý tứ gì vậy. Thay vì xin lỗi, hai thằng nhóc ngoái đầu lại sừng sộ tôi, tuy rất giận nhưng tôi đành nhịn bởi vì đụng đến đám này thì chỉ biết nhục với tụi nó, chưa nói đến chuyện chúng có thể hành hung mình và đôi khi còn dùng dao để xử mình nữa.

Ngày xưa, hầu hết thanh niên ở Tam Kỳ như chúng tôi ai nấy đều hiền lành và dễ mến, thế nhưng ngày nay lại có không ít thanh niên mất dạy và hung hăng một cách đáng sợ. Khuôn mặt của chúng luôn đằng đằng sát khí, lúc nào cũng chờ chực để gây sự và chẳng coi những người đáng tuổi cha chú mình ra cái thá gì cả. Phải chăng việc đô thị hóa luôn kèm theo sự lưu manh hóa? Báo chí thường đưa tin về những vụ việc thanh niên va chạm xe với nhau ngoài đường, hai bên chẳng hề hấn gì nhưng rồi bọn chúng cũng gây gổ với nhau và án mạng lại xảy ra. Sinh viên là thành phần có ăn học hẳn hoi mà cũng có một số chơi cờ bạc, đâm chém, cướp giật, nghiện ngập; thậm chí, có đứa sau khi làm tình với người yêu của mình, đã không ngần ngại giết chết bạn tình để cướp của mà còn chặt đầu để phi tang. Thật dã man hết sức! Đất nước đã thống nhất gần 40 năm, sao mà “tàn dư của đế quốc Mỹ” còn di hại đến tận bây giờ?

Mấy ngày nay trời âm u và lành lạnh, tuy đầu năm mới nhưng tôi vẫn ngồi đây để kể những câu chuyện không mấy hay ho cho người thân và bè bạn. Niềm vui của người dân xứ sở này có thể nào được trọn vẹn khi mà chuyện đau buồn cứ xảy ra thường trực. Phải chăng, chỉ khi nào ta tập sống vô tư như con trẻ thì may ra mùa xuân của cuộc đời mới trở thành vĩnh cửu?

Dẫu chưa có dấu hiệu gì rõ ràng nhưng khi đạo lí đã mờ nhạt, đạo đức quá băng hoại thì xã hội dần dần bị phân hóa và tan rã. Tai họa không phải xảy ra trong một sớm một chiều, mà do cái mầm đã được gieo trước đó. Những câu chuyện đau lòng như con giết cha, vợ giết chồng đâu phải bỗng nhiên mà có nếu trước đó hạt giống con tố cha vợ tố chồng không được gieo kĩ và đã đến lúc dần dần nẩy nở. Người xưa đã thốt lên: “Lí sương kiên băng chí” - Chân dẫm lên sương mà biết trước được mùa băng giá sắp đến (Kinh Dịch). Đất nước đã lặng im tiếng súng từ lâu, thiên hạ được sống trong cảnh thanh bình như hằng mong ước nhưng lòng người đi vào thời li loạn. Khi lí trí luôn được đề cao, khi sự thành công về vật chất luôn được tôn vinh, còn cảm xúc của trái tim bị xem là thứ vô ích thì bất kì chuyện xấu xa gì cũng có thể xảy ra như báo chí thường xuyên cho biết. Dường như tất cả đã trở nên bế tắc!

Quê hương là một từ ngữ trống rỗng nếu lòng người mất đi tình tự quê hương. Quê hương không chỉ là cảnh vật, núi sông, là thú vui ẩm thực... mà còn là những kỉ niệm êm đềm hiền hòa, là tình cảm sâu nặng với ông bà và cha mẹ, với người thân và đồng bào, với bạn bè và thầy cô - những sợi dây thân ái nối liền qua năm tháng. Khi những yếu tố tinh thần vô cùng tốt đẹp kia bị mất đi thì quê hương sẽ rơi vào quên lãng. Làm sao những thanh niên lớn lên trên xứ sở khô cằn này có thể nhớ về Quê Hương khi viễn xứ? Còn có bao nhiêu người biết lo lắng và trăn trở cho vận mệnh của Quê Hương?

Khóc lên đi, ôi quê hương yêu dấu! (*)

(*) Cry, The Beloved Country (Alan Paton - Nguyễn Hiến Lê dịch, NXB Ca Dao, Sài Gòn 1969) 

Thứ Năm, 30 tháng 1, 2014

LY RƯỢU MỪNG

Suốt cả tháng qua, bầu trời âm u và thời tiết lạnh giá bởi những cơn mưa phùn gió bấc. Mấy ngày nay ánh nắng xuân đã về, lòng người bỗng thấy nhẹ nhàng phơi phới, cơn trầm uất hầu như đã biến mất. 

Bây giờ là thời khắc của năm tàn tháng tận, ngoài kia tiếng xe cộ rì rầm qua lại, tôi ngồi đây bình an nghe ngóng đất trời và cảm nhận cái khí vị của mùa xuân đang lan rộng khắp thinh không. Tuy đã qua lâu rồi cái lứa tuổi náo nức đếm từng ngày, từng ngày mong mau đến Tết, và đêm ba mươi thì không chợp mắt được vì trông trời mau sáng nhưng trong tôi vẫn còn tràn đầy bao kỉ niệm của những ngày quá vãng. Con trẻ hồn nhiên và thơ ngây, vô thức dường như thấu cảm điều gì đó rất thiêng liêng và huyền nhiệm trong những ngày mở đầu một năm mới; còn người lớn chúng ta có lẽ đã đánh mất thiên chân nên tâm hồn không được mấy hân hoan?

Sáng nay, tôi nghe đi nghe lại bài Ly Rượu Mừng do nhạc sĩ Phạm Đình Chương sáng tác cách đây hơn nửa thế kỉ. Dù đã từng được nghe lúc còn niên thiếu nhưng cho đến hôm nay Ly Rượu Mừng vẫn còn như rất mới - bởi bao giờ nó cũng làm xao xuyến và rộn rã tim tôi. Những lời cầu chúc trong Ly Rượu Mừng chưa bao giờ cũ, tuy chiến tranh đã chấm dứt gần bốn mươi năm mà bao ước mơ tươi đẹp của người dân Việt Nam vẫn chưa trở thành hiện thực.

Có thể nói rằng, người Âu Mỹ đón năm mới bằng nhạc phẩm Happy New Year của ABBA thì người Việt Nam lại đón Tết bằng nhạc phẩm Ly Rượu Mừng của Phạm Đình Chương. 

Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2014

VÀI DÒNG CẢM NHẬN VỀ ÂM NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN














Tôi nghĩ rằng, Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ duy nhất của dân tộc Việt dùng âm nhạc để chuyển tải ý nghĩa của triết học Hiện sinh và thiền học Phật giáo. Con đường sáng tác của ông có thể được chia làm ba chặng: chặng đầu là những bản tình ca; chặng giữa là dòng nhạc phản chiến và tình tự quê hương; chặng cuối là dòng nhạc nói về thân phận con người, về lẽ tử sinh, sự đối diện với hư vô, niềm cô đơn tâm linh và nỗi thao thức trở về với chính mình - hòng tìm gặp con người chân thực. 

Thời trai trẻ, tôi từng say mê đàn hát những bản tình ca của ông; đến mùa thu cuộc đời, tôi lại thích nghe dòng nhạc ông sáng tác khi đã trải nghiệm về sự tìm kiếm. Có khá nhiều nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn ở giai đoạn cuối mà khi vừa mới nghe lướt qua, chúng ta cứ ngỡ ông nói đến tình cảm thế nhân; nhưng những ai tinh ý hoặc có chút am hiểu về triết học và thiền học Phật giáo sẽ nhận ra cái "ý tại ngôn ngoại" (ý nghĩa nằm ở ngoài lời nói) của ông - bởi ngôn từ của thế gian thì không thể diễn đạt hết được những cảm nghiệm về triết lí và đạo học. Với tôi, âm nhạc Trịnh Công Sơn không những nâng cao tâm thức và thăng hoa tâm hồn của người nghe mà còn có khả năng trị liệu những nỗi khắc khoải triền miên. Nói theo ngôn ngữ của nhà Phật, dường như ông là một Bồ Tát Nghệ Sĩ (Bodhisattva-Artiste).

Tuy đã bỏ nghe nhạc và đàn hát nhạc từ lâu nhưng thỉnh thoảng vào những đêm khuya, tôi vẫn trở về với những ca khúc của Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly để được an nhiên tự tại sau những cơn giông bão của đời mình như: Một Cõi Đi Về, Đóa Hoa Vô Thường, Phôi Pha, Hành Hương Trên Đồi Cao, Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ, Lời Thiên Thu Gọi, Chiếc Lá Thu Phai, Tôi Đang Lắng Nghe, Chìm Dưới Cơn Mưa, Rơi Lệ Ru Người… 

Một Cõi Đi Về là nhạc phẩm cuối cùng của cuộc hành trình vô định, và cũng là nhạc phẩm sâu sắc nhất mà ông đã phơi bày tâm trạng của một người muốn tìm lại “quê nhà”, muốn giã từ cõi đời hư ảo để trở về với thế giới hằng hữu khi không tìm được ý nghĩa của cuộc tồn sinh.


Thứ Tư, 18 tháng 12, 2013

ĐÔI DÒNG TỰ TRUYỆN CỦA MỘT GÃ KHÙNG


Cách đây hơn hai mươi năm, để giải tỏa những ẩn ức và bế tắc trong đời sống thường nhật, tôi tự mày mò tìm hiểu về các trường phái Triết học và Đạo học. Trong hành trình cô đơn đó, tôi đã bắt gặp Friedrich Nietzsche - triết gia người Đức cuối thế kỉ XIX. Với tôi, Nietzsche là một triết gia vĩ đại và sâu sắc, một triết gia có một đời sống cô đơn và “điên loạn” nhất trong lịch sử nhân loại.

Nhờ sự dẫn đường của hai triết gia Kim Định và Phạm Công Thiện, tôi đã thấu hiểu Nietzsche được phần nào. Được cộng hưởng bởi ngọn lửa tỏa sáng từ trái tim của chàng trai trẻ họ Phạm (Phạm Công Thiện thời tuổi trẻ), tôi tìm ngay đến những tác phẩm quan trọng của Nietzsche được dịch từ nguyên bản tiếng Đức. Qua những trang viết rực lửa và đầy cuồng nộ, tôi đã bị nguồn tư tưởng và sức mạnh tâm linh của Nietzsche quyến rũ hoàn toàn. Tôi đã say sưa uống từng dòng chữ của Nietzsche như là được uống thứ tiên tửu của trời cao. Tôi thực sự choáng váng và say mê, sự say mê này kéo dài trong nhiều năm trời.

Dưới sự ảnh hưởng của Nietzsche và Thiền Tông Phật giáo, đầu năm 1996, tôi từ bỏ kinh doanh - công việc mà tôi đang kiếm nhiều lợi nhuận - để đưa đẩy đời mình và gia đình vào sự bất trắc. Để được phiêu du theo những dòng tư tưởng, ước vọng duy nhất của tôi là từ bỏ vùng bình nguyên náo nhiệt lên ẩn cư vùng núi cao tĩnh mịch. Mùa thu năm đó, tôi lên Đà Lạt tìm mua đất đai vườn tược, và dự tính nếu gặp duyên thì tôi sẽ bán hết gia sản rồi đem vợ con đến đó định cư. Lần đầu tiên đến Đà Lạt, tôi liền nhận ra rằng đây chính là vùng núi cao mà tôi luôn luôn mơ tưởng. Tuy vậy, sau vài lần thăm dò và xem xét địa thế, tôi hiểu ra rằng đây không phải là chốn thích hợp cho vợ con mình. Trong mười ngày ở Đà Lạt, tôi ít khi ra ngoài mà nằm lì ở chùa Linh Phong - nơi tôi có người chị đang tu hành - để đọc kinh Phật mà chẳng màng gì đến công việc đã dự tính. Chùa Linh Phong là chùa sư nữ nên đàn ông không được phép tá túc ở đó - trừ các vị tì kheo đã xuất gia. Khi diện kiến Sư bà Từ Hương, Sư Bà là sư trưởng chùa Linh Phong, không hiểu vì sao Sư Bà đã dành cho tôi nhiều ưu ái. Sau khi gặp gỡ và đôi câu trò chuyện, Sư bà đã cho phép tôi được ở lại và ăn cơm chùa tùy thích. Có lẽ đây là lần đầu tiên Sư bà dành biệt nhãn cho người trong cõi trần tục và đã dỡ bỏ luật lệ của tự viện với tôi. Nay Sư bà đã viên tịch nhưng tình nghĩa ấy tôi vẫn khắc ghi.

Mới đó mà đã mười bảy năm trôi qua, giờ ngẫm lại, tôi thấy mình suýt phạm phải sai lầm trong việc muốn đưa cả một gia đình vào cuộc phiêu lưu không lường trước. Nhiều khi tôi tự hỏi: Nếu ngày ấy tôi cứ khăng khăng sống theo ước vọng của mình mà không kể gì đến người thân thì không biết bây giờ vợ con tôi sẽ ra sao? Con tôi có được những thành tựu tốt đẹp như ngày hôm nay và vợ tôi có được đứng trên bục giảng để tiếp tục thực hiện được ước mơ từ thuở học trò không?

Trước đây, vợ tôi đi dạy cách nhà 25 cây số nên mỗi tuần mới về nhà một lần. Sau khi sinh con và hết kì hạn nghỉ sinh, vợ tôi phải bồng con trở lại khu tập thể của nhà trường. Buổi sáng năm xưa, vợ tôi ôm con và xách va li, đón xe đến trường để chuẩn bị đi dạy trở lại thì ngay trưa ngày hôm đó, tôi tất tả chạy xe máy đến trường và đề nghị vợ tôi viết đơn xin nghỉ dạy hẳn. Vợ tôi là một người vợ hiền thục như những người phụ nữ thời xưa, bao giờ cũng nghe lời chồng nên đã vui vẻ đồng ý. Lí do quan trọng nhất mà tôi muốn vợ tôi nghỉ dạy là tôi vô cùng thương nhớ con, tôi không thể xa đứa con trai yêu quý mà mình đã từng nâng niu và bồng ẵm gần một năm qua. Lí do thứ hai là tôi không cam lòng để con tôi bò lê, bò lết trong cái nhà trẻ dành cho con giáo viên của nhà trường. Không phải tôi coi thường nhà giữ trẻ ấy, những cô giữ trẻ cũng rất tận tâm, nhưng vì nhiều trẻ quá thì làm sao mà chăm sóc cho chu đáo được. Thế là ngay tối hôm đó, gia đình tôi lại sum họp.

Trong thời gian này, cuộc sống kinh tế của gia đình tôi khá bấp bênh, bởi trong thời buổi khó khăn ấy mà chỉ có một mình tôi kiếm ra tiền để lo cho gia đình. Dù gia đình lớn của tôi là một gia đình khá giả nhưng vì tự trọng nên không bao giờ tôi giãi bày những khó khăn do chính mình tạo ra. Trong sự bế tắc đó, tôi - một người thiếu thực dụng - bắt đầu vạch ra kế hoạch và mượn vốn để kinh doanh. Bước vào lĩnh vực kinh doanh, do không quen cách giao tiếp của người buôn bán, không biết lấy lòng khách hàng để đem cái lợi về mình; vì thế, vợ chồng tôi đã gặp nhiều khó khăn trong buổi ban đầu, nhưng nhờ tính trung thực của chúng tôi nên mọi việc rồi cũng êm xuôi và kinh tế của gia đình tôi tạm ổn định. Khi kinh tế bắt đầu ổn định, tôi lại tìm đến thế giới của sách vở, cái thế giới mà tôi không thể nào quên. Sau sáu năm kinh doanh, công việc đang trên đà phát triển thì do ảnh hưởng từ sách vở, tôi bỏ ngang và muốn lên vùng núi cao để sống trong sự cô tịch. Vợ tôi lúc nào cũng chiều theo ý tôi nên đã đồng ý nghỉ công việc kinh doanh.

Trong việc giáo dục con cái, định hướng tương lai cho con cái thì tôi không bao giờ dám hành động theo cảm hứng, nhưng riêng việc lo kinh tế cho gia đình thì tôi lại làm theo cảm hứng. Tôi đang làm việc gì đó nhưng nếu không ưa thích công việc này thì sớm muộn gì tôi cũng bỏ. Tuy sống tùy hứng, nhưng tôi luôn có những quyết định sáng suốt nên mọi việc rồi cũng ổn thỏa. Bởi luôn sống bằng cảm hứng nên không bao giờ tôi góp ý với người thân - nhất là những đứa em trong gia đình về những điều bình thường trong đời sống. Vì vậy, dưới mắt của các em tôi, tôi trở thành kẻ ích kỉ, do thiếu đầu óc thực dụng nên ít khi tôi khuyên bảo và giúp đỡ người thân. Thật là oan cho tôi, bởi chính tôi tính chuyên cho tôi còn chưa xong thì nào đâu dám khuyên nhủ người khác. Cũng vì tôi chọn lựa lối sống nghèo tự nguyện, tuy nghèo nhưng nhàn nhã, nghèo nhưng bao giờ tinh thần cũng an lạc nên tôi bị người thân ngộ nhận. Sau lưng tôi bao lời trách móc là tôi chỉ biết lo cho vợ con mà không chịu lo cho người khác. Tôi chẳng bao giờ coi trọng dư luận, vì thế tôi luôn im lặng và chịu đựng. Cái gia đình nhỏ luôn đem lại cho tôi yêu thương, hi vọng và an lành thì trái lại, cái đại gia đình ấy thỉnh thoảng đã đem lại cho tôi những buồn bực, thất vọng và chán nản. Phải chăng đó là định mệnh và nghiệp lực mà tôi phải gánh lấy?

Trở lại với Nietzsche và chuyến đi Đà Lạt. Thứ rượu tiên từ trời cao tuy cần thiết cho tâm hồn, nhưng tôi vẫn phải cần thứ lương thực hạ giới để nuôi sống xác thân tôi và con cái tôi. Tôi đành giã từ Nietzsche và những tác phẩm của ông, giã từ điều mà triết gia Kim Định đã từng nói: “Đọc Nietzsche tôi nghe tâm hồn phừng phừng sôi nổi.” (Triết Lý Giáo Dục - NXB Ca Dao, Sài Gòn, 1975 - trang 81). Tôi phải trở về với đời thường để trả nợ áo cơm, để nuôi dạy con cái và cố quên bóng ma của Nietzsche luôn luôn mời gọi.Từ ngày ở Đà Lạt trở về, tôi loay hoay tìm kế sinh nhai, cách mưu sinh mới mà tôi chọn lựa là êm ả, tránh va chạm và không đi xa. Sau nhiều lần suy nghĩ, tháng 04/1997 tôi bắt đầu công việc mới. Một thời gian ngắn, công việc dần dần có kết quả khả quan. Trong năm sau, vợ tôi có nguyện vọng trở lại nghiệp cũ nên nộp đơn thi công chức để vào biên chế nhà nước, may mắn vợ tôi trúng tuyển và bắt đầu đi dạy lại cho đến ngày hôm nay. Năm 2007, con tôi được đại học Princeton, Hoa Kỳ cấp học bổng toàn phần cho bốn năm đại học; như vậy từ đây con tôi đã tự lo liệu được cho mình. Nhờ không còn lo tài chính cho con ăn học, tôi từ bỏ kinh doanh tiếp để theo đuổi “cuộc chơi” đã vạch ra từ hai mươi năm trước, bất kể lối sống thiếu thực tế này không biết sẽ đưa tôi về đâu.

Khi viết những dòng chữ trên, tôi luôn cám ơn vợ tôi, có lẽ vợ tôi là người duy nhất dám đi cùng chồng vào con đường chông chênh và vô định ấy. Vì luôn trân trọng những ước vọng điên cuồng của tôi nên vợ tôi không bao giờ chống đối và phê phán, hoặc không bao giờ đem tôi so sánh với bất kì ai đang có được danh vọng hoặc tiền tài. Để tôi được hoàn toàn thỏa mãn trong đời sống tinh thần như ngày hôm nay. Vợ tôi đã hi sinh rất nhiều, kể cả chịu đựng cái tính khí thất thường của tôi để tôi được sống tự do theo ý muốn. Tôi nói ra điều này mà không ngại mang tội đại bất hiếu: “Trên cõi đời này, vợ tôi là người đã đối xử với tôi một cách tốt đẹp nhất - tốt đẹp hơn cả bậc sinh thành ra tôi”.

Giờ đây đối với Nietzsche, lòng tôi đã nguội lạnh. Thỉnh thoảng, trong đôi bài viết ngắn tôi có nhắc sơ qua về Nietzsche. Thời gian gần đây, do không còn tin tưởng mấy vào những ràng buộc của những gì thuộc giá trị của truyền thống, tôi lại nghĩ đến Nietzsche và triết lý của ông. Điều quan trọng còn đọng lại sau bao nhiêu năm quên lãng kia là chương sách “Về Ba Cuộc Hóa Thân” nằm trong kiệt tác Zarathustra Đã Nói Như Thế (Also Spach Zarathustra) của Nietzsche. Qua “Về Ba Cuộc Hóa Thân”, Nietzsche muốn đưa thông điệp đến cho con người hậu thế về cuộc hóa thân tinh thần: “Làm thế nào tinh thần trở thành lạc đà, làm thế nào lạc đà biến thành sư tử, và cuối cùng, làm thế nào sư tử trở thành trẻ thơ”. Lạc đà đi vào sa mạc tịch liêu, chuyên chở gánh nặng của văn hóa, truyền thống, giáo dục: đây chính là những giá trị xưa cũ. Sư tử là chúa tể của sa mạc, luôn luôn hung dữ và cuồng bạo: phê phán và đập phá các giá trị đã được con người định đặt ra từ trước. Trẻ thơ là đứa hài nhi vô tư và thơ dại: khởi đầu con đường sáng tạo ra những giá trị vĩnh cửu.


VỀ BA CUỘC HÓA THÂN - FRIEDRICH NIETZSCHE


“Ta sẽ thuyết minh cho các ngươi nghe về ba cuộc hóa thân của tinh thần: làm thế nào tinh thần trở thành lạc đà, làm thế nào lạc đà trở thành sư tử, và sau cùng làm thế nào sư tử trở thành trẻ thơ.

Có rất nhiều gánh nặng đối với tinh thần, đối với tinh thần dũng mãnh kiên trì được sự tôn kính khích động: dũng lực của tinh thần ấy đòi hỏi những gánh nặng nặng nề nhất.

Có cái gì nặng nề đâu? Tinh thần can đảm cất tiếng hỏi như thế; rồi nó quỳ gối như con lạc đà và muốn người ta chất thật nặng lên lưng mình.

Hỡi kẻ anh hùng, đâu là gánh nặng nặng nề nhất để cho tôi hất lên mình tôi và để cho sức mạnh của tôi được vui hưởng? - Tinh thần can đảm lên tiếng hỏi như thế.

Há chẳng phải là điều này: tự khiêm tốn nhún nhường để xúc phạm đến lòng kiêu hãnh của mình? Làm hiển lộ cơn điên nơi mình để biến trí huệ hiền minh thành trò cười thiên hạ?

Hoặc giả là điều này: từ bỏ chính nghĩa mình đúngvào lúc nó đang xưng vinh sự chiến thắng? Leo lên những đỉnh núi cao để cám dỗ kẻ cám dỗ?

Hoặc giả là điều này: sinh sống bằng những trái dẻ rừng cùng cỏ non của tri thức, và chịu đựng cơn đói cào nát tâm hồn, vì tình yêu chân lý?

Hoặc giả là điều này: ngã bệnh và xua đuổi hết những kẻ an ủi đi, để kết bạn với những người điếc, những người chẳng hề nghe được những gì ngươi muốn nói?

Hoặc giả là điều này: lặn sâu xuống làn nước đục, nếu đó là nước của chân lý, và không xua đuổi những con ếch lạnh cùng những con cóc nóng sốt?

Hoặc giả là điều này: yêu thương kẻ khinh bỉ ta và đưa tay về phía ma quỷ khi ma quỷ muốn làm ta khiếp hãi?

Tinh thần dũng mãnh nhận lãnh tất cả những gánh nặng đó: như con lạc đà vừa được chất hàng xong, vội vã lên đường về sa mạc, tinh thần dũng mãnh cũng vội vã về với sa mạc của đời mình như thế.

Nhưng giữa lòng sa mạc hoang liêu cô độc nhất đã thành tựu cuộc hóa thân thứ nhì: ở đây tinh thần biến thành sư tử, tinh thần muốn chinh phục tự do và làm chủ sa mạc riêng của mình.

Ở đây tinh thần tìm kiếm người chủ cuối cùng của nó: tinh thần muốn làm kẻ thù của người chủ ấy, và làm kẻ thù của vị Thượng đế cuối cùng của mình; để đạt chiến thắng vinh quang, tinh thần muốn chiến đấu với con đại khủng long.

Đâu là con đại khủng long mà tinh thần không còn muốn gọi là Thượng đế hay Chủ nhân nữa? Con đại khủng long ấy là “Mi phải”.Nhưng tinh thần của con mãnh sư thì bảo rằng “Ta muốn”.

Con đại khủng long “Mi phải” rình dò tinh thần dọc đường, lấp lánh ánh vàng dưới lớp da sừng có muôn ngàn vẩy và trên mỗi vẩy, lóe sáng dòng chữ vàng: “Mi phải”.

Những giá trị cổ lỗ ngàn đời lấp lánh sáng trên những chiếc vẩy ấy, và con rồng mạnh nhất trong loài rồng nói như thế này: “Giá trị của tất cả vạn sự đang lấp lánh trên mình ta”.

Tất cả giá trị đã được sáng tạo nên, cũng như tất cả những giá trị đang được sáng tạo, đều nằm trong ta. Thực ra, không nên có câu “Ta muốn” nữa! Con đại long ấy nói như thế.

Hỡi những anh em ta, tại sao lại cần đến con mãnh sư của tinh thần? Chúng ta há chẳng có khá đủ loài vật khỏe mạnh vừa có tinh thần khước từ vừa tuân phục hay sao?

Sáng tạo nên những giá trị mới; - đó là điều mà ngay cả con mãnh sư cũng chưa làm được; nhưng tự giải phóng mình để tiến đến những sáng tạo mới mẻ, - đấy là điều mà sức mạnh của con mãnh sư có thể làm được.

Tự giải phóng mình, thốt ra tiếng “Không” linh thiêng ngay cả với bổn phận: đấy là nhiệm vụ dành cho con mãnh sư, hỡi những anh em của ta.

Chinh phục quyền sáng tạo những giá trị mới, -đấy là cuộc chinh phục khủng khiếp nhất đối với một tinh thần kiên khổ và đầy lòng tôn kính. Thực ra, đối với tinh thần, đấy là một sự đánh cướp và là hành vi của một con thú săn mồi.

Ngày xưa, tinh thần yêu mến câu “Mi phải” như là điều thiện hảo linh thánh nhất của mình; giờ đây tinh thần phải thấy sự ảo tưởng và độc đoán ngay cả trong điều linh thánh nhất, cốt để tự do giải phóng khỏi tình yêu mến của mình: cần phải có một con mãnh sư cho một cuộc đạo tặc như thế.

Nhưng hỡi các anh em, hãy nói ta nghe, đứa trẻ thơ có thể làm điều gì mà con mãnh sư đã không thể làm được? Tại sao con mãnh sư dữ tợn phải biến thành trẻ thơ?

Trẻ thơ là sự ngây thơ và quên lãng, một sự tái khởi miên viễn, một trò chơi, một bánh xe quay vòng quanh mình, một vận chuyển đầu tiên, một tiếng “Vâng” linh thánh.

Vâng, hỡi các anh em, đối với trò chơi sáng tạo, cần phải có một tiếng “Vâng” linh thánh. Ý chí riêng của chính mình, đấy chính là điều mà hiện giờ tinh thần mong muốn; thế giới riêng của chính mình, đấy là điều mà kẻ đã đánh mất thế giới muốn chiếm được.

Ta đã nêu ra với các anh em ba sự hóa thân của tinh thần: làm thế nào tinh thần trở thành lạc đà, làm thế nào lạc đà biến thành sư tử, và cuối cùng, làm thế nào sư tử trở thành trẻ thơ”.

Zarathustra nói như thế. Và vào lúc này, Zarathustra cư ngụ trong thành phố mà người ta gọi là thành phố Con Bò Tạp Sắc.

Zarathustra Đã Nói Như Thế - Trần Xuân Kiêm dịch (NXB An Tiêm, Sài Gòn 1971, trang 33 - 37)

Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2013

ƯỚC VỌNG CỦA NGƯỜI ĐIÊN


Tôi muốn làm kẻ điên
Ngày, đầu đường xó chợ
Đêm, về ngủ quạnh hiu
Trên vỉa hè hoang vắng.

Tôi muốn thành gã khờ
Vượt thoát nợ trần ai
Chẳng nhớ ngày tháng qua
Không màng ngày mai tới.

Tôi muốn sống tịch liêu
Xa phồn hoa đô thị
Giữa núi đồi mênh mông
Ngắm nhìn đường mây trắng.

Tôi muốn lượn thênh thang
Thoát khỏi mọi buộc ràng
Của tập tục lưu truyền
Mấy ngàn năm truyền thống.

Tôi muốn được Tự Do
Không thuộc dòng họ nào
Không mồ mả cha ông
Không lễ nghi phiền phức.

Mượn tinh túy người cha
Và cái trứng của mẹ
Vay thức ăn của đất
Thành thân xác vô thường.

Cha tôi là Chân Như
Mẹ tôi là Đại Ngã
Bà tôi là Tính Thể
Ông tôi là Thực Tại.

Tôi muốn gặp lại Tôi
Chơi vơi không gốc rễ
Không quá khứ vị lai
Không làng xưa đất tổ.

Tôi muốn thấy Quê Hương
Chốn từ đó ra đi
Không phải nơi chào đời
Lúc hài nhi thơ dại.

Tôi, đứa con bất hiếu
Không hiểu tình thiêng thiêng
Từ chối chốn gian trần
Tìm Quê Hương miên viễn!

Đây là tâm thức của một người đã chìm sâu vào nền Đạo học Ấn Độ, Thiền Tông Phật giáo và Mật Tông Tây Tạng. Hắn đang loay hoay tìm cách thoát khỏi nhân sinh quan và thế giới quan Khổng giáo của vùng Á Đông. Bất kì cuộc thoát xác nào cũng gây nhiều đau đớn, xáo trộn và đổ vỡ trong đời sống thường nhật, nhưng một khi đã lên đường là quyết đi đến cùng.

Tam Kỳ - 15/12/2013