Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2013

TRONG NỖI NHỚ MÊNH MÔNG

Chiều nay, trong không gian tịch lặng của căn gác nhỏ, trong cái nóng như thiêu như đốt của mùa hè xứ Quảng, tôi nằm đọc Đánh Thức Trí Thông Minh (Awakeing of Intelligence) của Krishnamurti. Trong lúc gấp sách mơ màng, bỗng nhiên cảnh cũ bạn xưa tuôn về làm tràn ngập tâm tưởng tôi như một cơn lũ. Dẫu biết rằng những thuyết giảng của Krishnamurti là hiện thân của phi tư tưởng, phi kiến thức, phi kí ức, phi thời gian… nhưng không hiểu sao hôm nay tâm tư tôi quyết “chống chọi” lại tinh thần của vị đạo sư.

Hè năm 1978, tôi theo chân một người bạn vừa mới thân quen từ Đà Nẵng về thăm quê ngoại ở làng Bàng Tân, Đại Lộc. Người bạn cũng là một người anh bà con phía bên ngoại tôi và làng BàngTân là quê nội của anh ấy. Ngày đó, ngôi làng nhỏ thật thanh bình và yên tĩnh - nhất là những đêm trăng sáng. Nhà bạn tôi nằm sâu trong một khu vườn rộng, những đêm khuya, sân vườn đầy vẻ thâm u và quyến rũ. Sau khi mẹ bạn mất một thời gian, thân sinh của bạn tôi đã xuôi Nam và về sau định cư ở một nơi cách quê nhà cả hàng vạn dặm nên khu vườn xưa giờ đã thuộc về người khác.

Nhiều đêm, ngồi chơi trong vườn cùng bạn nhưng tôi cứ thẫn thờ nhìn ánh trăng dịu mát, thỉnh thoảng những ca từ tuyệt đẹp như “Đường em có đi, hằng đêm bước qua nở những đóa hoa ôi dị kì. Đường êm có khi, chờ em bước qua là nghiêng giấc mơ ước thề. Ngàn sao sáng xa, nhìn em thướt tha, rụng rơi vướng mây tóc ngà… Đường em cứ đi, tình ta cứ xây, chờ em thoát thai quay đường về. Đường quanh khúc co, nhịp chân trói vo, đường duyên ấm vui, đường mơ.”  (Đường Em Đi - Phạm Duy) hoặc “Dìu nhau đi trên phố vắng. Dìu nhau đi trong ánh sáng. Dắt hồn vào giấc mơ vàng. Nhẹ nhàng dìu nhau đi chung một niềm thương… Dìu nhau sang bên kia thế giới. Dìu nhau nương thân ven chín suối. Dắt dìu về chốn xa vời. Đời đời dìu nhau, đưa nhau vào nghìn thu.”  (Thương Tình Ca - Phạm Duy) cùng tiếng đệm nhỏ nhẹ của cây đàn guitar được vang lên trong đêm thanh vắng. Tuy mới tuổi mười tám nhưng phần nào tôi đã nhận ra sự vô thường hư ảo và nỗi khổ đau của một kiếp nhân sinh. Cũng vì thế, đến tận hôm nay đời tôi chẳng tựu thành được một điều gì quý giá và mãi mãi chỉ là con số không.

Dòng sông Vu Gia hiền hòa xuôi về biển cả chảy ngang qua làng Bàn Tân, Đại Lộc. Mùa nắng, dòng sông phẳng lặng và êm đềm bao nhiêu thì mùa lũ lại cuồng bạo và hung dữ bấy nhiêu. Một chiều nắng nhạt, trên chuyến đò ngang xuôi dòng Vu Gia từ làng Bàn Tân sang chợ Phường Đông, tôi được bạn kể nghe câu chuyện về cuộc đời, về hành trình truy tìm chân lí và con đường dẫn đến sự giác ngộ của Tất Đạt - nhân vật chính trong Câu Chuyện Dòng Sông (Siddhartha) của Hermann Hesse. Khi nghe bạn nhắc đến cái tên Tất Đạt, tôi liền nhận ra gương mặt thân quen ấy, vô thức ngủ yên bắt đầu lay động. Hè năm 1975, tôi - một cậu bé mười lăm tuổi mê sách - tình cờ bắt gặp Câu Chuyện Dòng Sông và chiếm giữ nó. Tâm trí tôi còn quá non nớt nên không thể nào hiểu nổi ý nghĩa thâm trầm của kiệt tác tâm linh ấy và cuốn sách đã bị thất lạc lúc nào tôi cũng không hay. Giờ đây mỗi khi nghĩ lại, tôi vô cùng hối tiếc vì đã đánh mất kỉ vật quý giá này.

Chiếc ghe với mái chèo nhẹ nhàng lướt trôi. Trong cảnh bềnh bồng sông nước, có mây trắng ngang trời và xa xa là đồi núi chập chùng, người bạn đã say sưa dẫn dắt hồn tôi vào cõi mộng tưởng thênh thang, nhưng thực ra, lúc bấy giờ tôi chưa thấu hiểu về sự giác ngộ. Sau đó do bận bịu việc học hành, câu chuyện về chàng Tất Đạt đã đi vào quên lãng. Mùa thu năm 1983, khi tinh thần gặp hồi khủng hoảng, tôi may mắn được một người chị - bây giờ là chị vợ - tặng cuốn sách nói trên thì bấy giờ tôi mới đủ sức thể nhập vào dòng sông bất diệt luôn luôn dạt dào tuôn chảy. Gần trọn mùa đông năm 1983, cùng với Hermann Hesse và dòng sông Vu Gia, tôi đã sống những tháng ngày thơ mộng nhất đời mình. Câu chuyện như có một ma lực và vô cùng lôi cuốn nhưng vì chưa trải nghiệm nhiều nên tôi chưa cảm nhận đầy đủ đời sống nội tâm của chàng trai trẻ Bà la môn - người thương gia - lão chèo đò - bậc giác ngộ có tên là Tất Đạt của mấy ngàn năm trước trên mảnh đất vô vi Ấn Độ. Mãi cho đến năm 1992, lúc bắt đầu đọc sách về Thiền Tông, tôi mới hoàn toàn thấu hiểu những gì Hermann Hesse muốn chuyển tải. Câu Chuyện Dòng Sông đã xoay chuyển hướng đời và xô đẩy tôi đi về một vùng trời mù sương và vô định.

Từ lâu, tôi đã dự tính sẽ viết một bài hồi ức có nhan đề “Ông bà ngoại tôi và làng Bàn Tân - Đại Lộc”  để tưởng niệm ông bà ngoại, để gợi nhớ tình yêu thương vô bờ mà ông bà đã dành cho tôi và cưu mang tôi trong cái thời mạt vận ấy. Tôi cũng dự tính viết “Hermann Hesse,Tôi và Câu Chuyện Dòng Sông”  để tạ ơn người đã mở lối vào khu vườn kì bí Đông Phương và cho tôi nhìn ra cội nguồn của ánh sáng nguyên sơ. Tuy đã tự hứa với mình nhiều lần, nhưng mỗi khi chấp bút là mỗi lần tôi bị lạc trong mê lộ của thế giới ngôn từ và đánh mất sự tĩnh lặng của tâm thức nên đến nay vẫn chưa thực hiện được.

Kể từ sau năm 1979, do hoàn cảnh sống, tôi và người bạn ấy hiếm khi có dịp ngồi lại với nhau. Năm 1991, sau nhiều năm xa cách tôi gặp lại bạn. Qua bao thăng trầm dâu bể, bạn tôi vẫn còn cư ngụ trong căn nhà tại một con hẻm nhỏ trên đường Đống Đa, Đà Nẵng. Đây chính ngôi nhà nhỏ bình yên của riêng người bạn từ thời trai trẻ mà tôi đã có dịp đến chơi lần đầu vào mùa hè năm 1978. Gặp nhau vào lúc tình trạng kinh tế của gia đình bạn đang lâm vào cảnh khốn khó, nhưng tình bạn vẫn như xưa. Những trưa nắng đổ lửa, những đêm hè oi bức của những năm 1991-1993, trên căn gác chật chội và nóng hầm hập ấy, câu chuyện về sự giác ngộ vẫn là đề tài thường xuyên được nhắc đến. Cuối năm 1993, bạn tôi bỏ xứ vào Nam để tìm kế mưu sinh, ngôi nhà đã vào tay người khác. Không biết giờ đây ngôi nhà ấy như thế nào, đã được sửa sang hay bị người chủ mới dỡ bỏ hoàn toàn để xây lại thành căn nhà khác? Giờ đây trong kí ức không phai mờ của tôi, ngôi nhà có căn gác gỗ thân yêu vẫn luôn hiện hữu. Làm sao để có được một đêm tôi cùng người bạn trở về nằm yên trên căn gác đơn sơ để cảm nghiệm lẽ vô thường sinh tử?

Nhờ trời, sau bao năm vất vả, bạn tôi đã được thong dong trong ngôi nhà ba tầng và mảnh vườn nhỏ cạnh bên luôn tươi màu hoa lá - niềm mơ ước của bao người chọn Sài Gòn làm quê hương thứ hai. Dù đã đến thăm chơi và ở lại nhiều lần trong ngôi nhà rộng rãi, thoáng mát đó nhưng sao tôi vẫn cảm thấy thiếu sự gắn bó và thân thuộc. Suy nghĩ lan man đưa tôi về câu chuyện của họa sĩ bậc thầy về tranh sơn mài Nguyễn Gia Trí. Một thời gian sau khi bức tranh “Vườn xuân Trung Nam Bắc” của họa sĩ Nguyễn Gia Trí được bán với giá rất cao, ông bị bệnh nặng và phải nhập viện dài ngày. Lợi dụng lúc ông vắng nhà, con cái ông đập bỏ cái nhà và xưởng vẽ cũ nát, hư hỏng vì mấy chục năm không tu sửa và xây dựng một ngôi nhà khang trang khác. Khi xuất viện và được người nhà đón về, vừa đến cửa ông không chịu vào và bảo rằng đây không phải là nhà của mình. Khi con cái cho biết đây là ngôi nhà vừa mới được xây dựng lại thì ông hờn dỗi và bắt đền mọi người. Hơn mười năm về trước tôi chưa đủ sức để cảm nhận được tâm trạng của ông nên nghĩ rằng đây là một ông già kì cục, nhưng nay tôi đã thấu hiểu. Phải chăng tôi đã già mất rồi và đang trở thành người hoài cổ?

Trí nhớ mênh mông lại đưa tôi về những đêm hè của năm 1980 của một khung trời cũ với một người bạn khác. Tôi và người bạn học cũ hay thức khuya trong căn nhà dưới chân đồi ở làng quê Đại Hanh - nay thuộc huyện Phú Ninh - để nhàn đàm về những mộng ước ấu thời không thể thực hiện. Dưới ánh sáng tù mù của cây đèn dầu, càng về khuya cảnh vật càng im ắng, thôn xóm đã chìm vào giấc ngủ mà trong gian bếp nhỏ, hai chàng trai trẻ vẫn còn thì thầm thâu đêm. Trong thời buổi nghèo khó năm xưa, thức khuya để tâm tình mà có nửa lon thuốc rê để phì phà và vài chén khoai chà dằn bụng là đầy đủ lắm rồi, và câu chuyện cứ thế mải mê không hồi kết. Đêm đã khuya mà cuộc tán gẫu của hai chàng trai trẻ vẫn vang vang lên tận nhà trên, mẹ người bạn phải giục đến mấy lần thì cả hai mới chịu đi ngủ.

Mùa thu năm ấy người bạn đi học xa, lâu lâu mới về thăm nhà. Từ đó đến nay, tôi chưa bao giờ có dịp thức khuya cùng người bạn trong căn nhà ấy. Thỉnh thoảng, kỉ niệm xưa thấp thoáng hiện về từ kí ức xa xăm nhưng tôi không chú ý lắm, bỗng dưng chiều nay một nỗi nhớ khôn nguôi tràn ngập lòng mình. Bao năm qua do bận bịu chuyện áo cơm, chuyện nuôi dạy con cái chắc bạn tôi không còn nhớ những đêm hè cô liêu tịch mịch ấy. Mẹ của người bạn đã qua đời gần bốn năm nay, bạn tôi và anh em của người bạn đều ở xa, ngôi nhà năm xưa giờ đây trở nên hoang vắng. Tôi ước ao được một lần cùng bạn trở về không gian cũ, thức trọn một đêm hè để cảm nghiệm sự tĩnh lặng của một vùng quê nghèo hiu hắt và ôn lại những chuyện buồn vui của một thời trai trẻ. Nhưng đó cũng chỉ là mơ ước, bởi tâm trí con người hiện đại đang quay cuồng vội vã, còn trái tim thì không thiết tha sự đồng vọng thâm giao.

Mỗi khi kỉ niệm của những ngày đã qua dâng trào, lòng tôi cảm thấy xao xuyến bâng khuâng. Trong thời buổi sự thành công và cạnh tranh luôn được chú trọng, tất cả những gì tốt đẹp trong sự tương giao giữa người và người trên quê hương đã dần dần phai nhạt. Sống trong biển người chen chúc đông vui nhưng nhiều lúc tôi vẫn thấy mình lạc loài và cô độc. Để tìm được sự an lạc trong thế giới mê cuồng, tôi tập sống tỉnh thức trong từng phút giây hiện tại và xóa đi những kỉ niệm của một thời quá vãng. Tuy nhiên, đôi lúc tâm trí tôi vuột khỏi chánh niệm như một đứa trẻ tìm cách trốn chơi trong sự canh chừng của cha mẹ, hay như con trâu già thoát khỏi người chăn để tìm về cánh rừng xưa. Nếu mai kia phải sống nơi xứ người mà lòng luôn ngóng vọng cảnh cũ người xưa và mồ mả cha ông nơi cố quận, hoặc sống nơi quê nhà mà thương con nhớ cháu ở tận phương xa thì làm sao tôi có thể tránh đi nỗi ưu phiền chồng chất. Phải chăng đó là định mệnh của một con người hay hoài cổ. Tôi tự hỏi, làm thế nào để được an nhiên tự tại giữa dòng đời luôn luôn thay đổi?

Tam Kỳ, Tiết Hạ Chí, Quý Tỵ - 2013

Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013

VỀ KRISHNAMURTI

Krishnamurti sinh năm 1895 tại  Ấn Độ. Năm 13 tuổi ông được Hội Thông Thiên Học nhận vào và được xem như là ứng thân của một bậc “đạo sư thế giới” mà sự nhập thế đã được hội công bố trước. Chẳng bao lâu, Krisknamurti xuất hiện như một đấng vô thượng sư đầy uy quyền và cương nghị với những cuộc nói chuyện và các bài viết chẳng liên quan đến một tôn giáo riêng biệt nào và cũng không thuộc về Đông hay Tây mà cho toàn thể nhân loại. Cương quyết từ bỏ hình ảnh là đấng cứu thế, năm 1929 Krishnamurti giải tán Dòng tu Ngôi Sao Phương Đông (Order of the Star in the East) - một hội đoàn lớn và giàu có đã được xây dựng quanh ông - và tuyên bố chân lý là “vùng đất không lối vào”, chân lí không thể đạt được bởi bất kì tôn giáo, triết lí hoặc giáo phái nào cả.

Suốt đời mình, Krishnamurti nhất mực từ chối danh hiệu đạo sư mà nhiều người đã tìm cách phong tặng. Ông thu hút vô số người nghe trên toàn thế giới nhưng không bao giờ đòi hỏi uy quyền cũng như thu nhận đệ tử, ông thuyết giảng như một con người nói chuyện với một con người. Cốt tủy giáo pháp của ông là sự nhận thức được rằng mọi thay đổi căn bản trong xã hội chỉ xảy ra khi có sự chuyển hóa ý thức cá nhân. Krishnamurti luôn luôn nhấn mạnh về sự biết rõ chính mình, hiểu được những ảnh hưởng của sự hạn chế và chia rẽ trong việc quy định mang màu sắc của tôn giáo và quốc gia. Ông chỉ rõ tính cần thiết của sự cởi mở, vì đó là “không gian bao la trong bộ não có sẵn một năng lượng ngoài sức tưởng tượng”. Hình như đó chính là suối nguồn sáng tạo bất tận của ông và cũng là yếu tố then chốt của ảnh hưởng mang tính xúc tác mà ông đã tác động lên khối nhân loại đông đảo và đa dạng này.

Krishnamurti không ngừng thuyết giảng trên toàn thế giới cho đến khi mất vào năm 1986 ở tuổi 90. Những bài diễn thuyết, đối thoại, nhật kí và thư từ của ông đã được lưu giữ trong hơn 60 bộ sách. Từ nguồn giáo huấn phong phú đó mà loạt sách chủ đề này đã được kết tập và ấn hành. Mỗi cuốn sách đặt trọng tâm vào một đề tài có liên quan chuyên biệt và tính khẩn thiết của nó trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.

(Lời Nói Đầu tác phẩm OnLiving and Dying - Về Sống và Chết)

 CÁI TÔI

Tại sao ta thèm khát được thiên hạ biết đến, thích được thiên hạ nể vì, ham được khuyến khích? Tại sao ta nông nổi đến vậy? Tại sao ta níu cứng vào những cái riêng rẽ của tên gọi, địa vị, sự nghiệp? Không tên tuổi thì tồi lắm sao? Không được đời biết thì hèn lắm sao? Tại sao ta đuổi theo tiếng tăm, cần được ái mộ? Tại sao ta không bằng lòng ta? Phải chăng vì ta sợ ta, ta xấu hổ đã trót là ta, nên tên gọi, địa vị và sự nghiệp mới trở thành quan trọng vậy? Thiệt là quái gở sao mà lòng thèm khát của ta mạnh quá quắt đến như vậy, cứ muốn phải có tên tuổi, phải được hoan nghinh? Trong cơn kích động của đấu trường, người ta làm đủ việc lạ lùng để được tôn kính; người ta được suy tôn là anh hùng vì giết được một đồng loại. Bằng vào những uy quyền, thiên tư, khả năng hoặc thành quả, người ta leo trèo lên gần hơn mức tuyệt đỉnh - tuy nói tuyệt mà không “tuyệt” bao giờ, vì càng ngày càng có những đỉnh cao thêm mãi mọc lên trong khối óc nhiễm phải mầm độc thành công…

Dầu bằng đường lối nào, hoặc vụng hoặc khéo, cái tôi vẫn được nuôi dưỡng và bồi bổ. Ngoài những việc làm phi nhân, phản xã hội của nó ra, tại sao cái tôi phải được duy trì mãi? Dầu rằng ta mắc trong cơn bấn loạn và buồn phiền, với những niềm vui chốc thoáng, tại sao cái tôi cứ đuổi theo những chuyện nhất định sẽ đưa đến khốn khổ và đau thương? Niềm khao khát hoạt động tích cực cho cái thực nhằm chống lại cái hư thúc đẩy ta tranh đấu để hiện hữu; có tranh đấu ta mới có cảm tưởng sống, đời ta mới có mục đích, và lần hồi ta sẽ từ bỏ được mầm xung đột và buồn phiền. Ta nghĩ rằng nếu hoạt động ngưng hết thì ta sẽ không còn là cái gì hết, ta tàn tạ, và cuộc sống mất hết ý nghĩa; và nghĩ vậy tức ta đứng nguyên ở thế kẹt giữa hỗn loạn, xung đột và mâu thuẫn. Nhưng đồng thời ta cũng ý thức đến một cái gì khác hơn, siêu lên và vượt ra ngoài tất cả nỗi khốn đốn ấy. Như thế là có cuộc nội chiến ở trong ta vậy.

Bên ngoài ông sang trọng bao nhiêu, bên trong ông nghèo nàn bấy nhiêu; tuy nhiên quấn khố đi ra đường vẫn chưa phải là thoát nghèo. Sở dĩ ông nghèo, ông trống không bên trong, vì ông thèm khát trở thành; và dầu làm gì, cái không ấy vẫn không bao giờ lấp đầy được; dầu ông làm gì vẫn là mưu toan lẫn tránh - hoặc vụng hoặc khéo - mà tránh đi đâu thì cái không ấy vẫn thân thiết sát kề bên ông như bóng của chính ông. Dầu ông không muốn đoái hoài đến cái không ấy, nhưng nó vẫn sờ sờ đó. Cái tôi của ông, dầu cởi bỏ mất đi hoặc điểm tô thêm, vẫn không bao giờ che đậy được cái nghèo ở bên trong. Bằng những hoạt động tiêu cực hay tích cực, cái tôi xoay xở đủ cách để làm giàu và gọi đó là kinh nghiệm hoặc gì gì khác tùy theo sở thích. Cái tôi không bao giờ chịu vô danh. Nó có thể choàng một lớp áo khác, mang một cái tên khác, nhưng vẫn là cái cốt cũ ấy. Chính cái mưu mô đồng hóa ấy ngăn cách ta nhận ra thực chất của nó…

KRISHNAMURTI
(Commentaries on Living I - Đường Vào Hiện Sinh, Trúc Thiên dịch, NBX An Tiêm 1969, trang 120-123)

Thứ Sáu, 14 tháng 6, 2013

VỢ VÀ BẠN THÂN

Chàng là người mê sách hơn mê tiền, ưa nhàn nhã hơn làm việc, thích nằm dài đọc sách hơn là đi lại, chỉ biết cắm nồi cơm điện, luộc rau và rang đậu mà không hề biết nấu thức ăn... Vô dụng như chàng mà không nghèo mới là chuyện lạ. Dẫu vậy, chàng vẫn không bị vợ bỏ mà còn được vợ thương là phước ba đời cho chàng lắm rồi!

Dù nhiều lúc vợ đang bận soạn giáo án hay chấm bài nhưng khi ngẫu hứng đến, chàng vẫn huyên thuyên toàn chuyện trên trời dưới biển. Câu chuyện của chàng chẳng ăn nhập gì đến đời sống áo cơm, thế mà vợ chàng cũng sẵn sàng dừng công việc và cùng chàng phiêu lãng trong cái thế giới tinh thần ấy.

Trong lúc chàng không thể chia sẻ những suy tưởng lạ đời của mình với bất kì một ai thì vợ chàng lại kiên nhẫn “chịu trận”. Tên tác phẩm của những đạo sư và triết gia nổi tiếng mà chàng yêu thích đã được vợ chàng thuộc vanh vách - mặc dù cô nàng chẳng để ý gì đến những loại sách khó tiêu hóa này. Năm tháng qua đi, vợ chàng đã trở thành người bạn thân thiết của đời chàng - người luôn lắng nghe những gì chàng muốn chia sẻ.


Thứ Tư, 12 tháng 6, 2013

NHỮNG SỐ PHẬN ĐÁNG ĐƯỢC YÊU THƯƠNG

Má ơi đừng gả con xa,
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu.
(Ca dao Nam bộ)

Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.
(Ca dao xứ Quảng)

Như thường lệ, vào lúc 5 giờ sáng hôm nay chàng chạy bộ ngoài đường. Chạy được một đoạn, bỗng nhiên chàng nhìn thấy hai cô gái "ăn sương" đang nghiêng ngả ở phía đối diện. Gương mặt của cả hai đều xanh xao, phờ phạc vì đã thức thâu đêm. Chẳng những chàng không dám coi thường và khinh bỉ mà còn dấy lên lòng thương cảm.

Chuyện đời ở trước mắt đã làm cho chàng nghĩ ngợi lan man. Nếu một người con gái mới lớn không may phải sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó, cha mẹ ít học và không có thời giờ để dạy bảo mà chỉ lo chạy gạo từng bữa thì làm sao bản thân người ấy có thể tránh khỏi những cám dỗ của đời sống vật chất đang quyến rũ ở chung quanh. Và bắt đầu từ đó, cuộc đời xô đẩy nạn nhân đi đến chỗ làm thứ đồ chơi trong tay thiên hạ là lẽ thường tình. Có nhiều và quá nhiều những cô gái như thế trong xã hội Việt Nam hiện đại.

Theo dòng thời gian, thân phận người phụ nữ nước Việt vẫn chưa được cải thiện gì nhiều. Thời đại xa xưa, người con gái bị cha mẹ bán gả cho người ta nên khi về làm dâu nhà chồng thì luôn luôn bị đối xử tệ bạc; thời đại tân tiến, đứa con gái nhà nghèo, thất học, có chút nhan sắc lại chấp nhận làm dâu xứ người hòng kiếm sống và mong được báo hiếu cho cha mẹ nhưng phải chịu biết bao ngược đãi - đôi lúc phải tìm đến cái chết để giải thoát. Những ai ở vào tình cảnh khốn cùng ấy mà không được "may mắn" làm nàng Kiều đời mới thì chỉ còn cách bán thân để nuôi miệng mà thôi.
 

Chúng ta là những con người diễm phúc vì đang được ăn ngon mặc đẹp, đang hưởng quá nhiều lạc thú, sẽ có một tương lai tạm yên ổn... và luôn được xã hội tôn trọng. Còn những số phận đáng thương kia biết sẽ về đâu trong cái biển người mênh mông cuồng loạn này?

Thứ Tư, 5 tháng 6, 2013

TỪ UNG THƯ TINH THẦN ĐẾN UNG THƯ THỂ CHẤT

Con người đã bất chấp tất cả để "phát triển" kinh tế - hay nói đúng hơn là bất chấp tất cả để thỏa mãn mọi tham lam và dục vọng. Tại Trung Quốc, căn bệnh ung thư tinh thần đã làm cho căn bệnh ung thư thể chất ngày càng lan rộng. Tai họa không phải đến từ trời cao mà do chính con người gây ra cho đồng loại của mình.

Thật là trùng hợp! Bài viết Bệnh Ung Thư Tinh Thần đã được đưa lên đây vào ngày 31/5/2013 thì đến hôm nay, báo Vietnamnet lại đăng bài "Thực tế hãi hùng ở các làng ung thư Trung Quốc". Thế giới chung quanh thực sự không còn yên bình nữa. Điều ác đã phô bày quá rõ nét!

http://vietnamnet.vn/vn/quoc-te/123954/thuc-te-hai-hung-o-cac-lang-ung-thu-trung-quoc.html

Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013

BỆNH UNG THƯ TINH THẦN

Phần đông, ai cũng tự cho mình là người quan trọng, ai cũng ham muốn tiền bạc, lạc thú, địa vị, quyền lực và sự nổi tiếng. Đây chính là căn bệnh ung thư tinh thần của loài người. Khi con người trên mặt đất ngày càng nhiều thì cuộc cạnh tranh để có được những thứ đó càng trở nên khốc liệt, và vì thế cái ác cũng hiển bày dữ dội hơn. Không cần ra khỏi cửa, mỗi ngày chỉ cần đọc vài thông tin trên internet thì cũng có thể thấy được thế giới quanh mình đang thực sự hoảng loạn đến mức nào. Đời sống không còn yên bình nữa!

Sự hỗn loạn và băng hoại của xã hội là do sự hỗn loạn từ nội tâm được phóng chiếu ra bên ngoài, do đó cần phải trị liệu căn bệnh tận gốc. Nếu tâm trí của con người cứ mãi mãi bệnh hoạn thì xã hội làm sao có thể lành mạnh được. Từ bao thế kỉ qua, người ta đã dùng đủ loại phương thuốc để chữa trị nhưng đó là những bài thuốc chỉ làm giảm đi cái triệu chứng, còn căn bệnh thì vẫn y nguyên. Mọi sự canh tân, mọi sự cải tổ, mọi cuộc cách mạng ở bên ngoài không chỉ là những vá víu tạm thời mà đôi khi còn làm cho xã hội rối loạn thêm.

Nếu con người muốn hòa bình và tồn tại trên mặt đất mà không bị diệt vong do sự tàn phá môi sinh, chiến tranh nguyên tử, nạn đói triền miên... gây ra thì mỗi cá nhân cần phải khởi phát một CUỘC CÁCH MẠNG TÂM THỨC. Điều mà Đức Phật, Lão Tử, Jiddu Krishnamurti, các bậc đạo sư của Phật giáo Mật tông Tây Tạng... đã thực hiện và luôn kêu gọi một cách khẩn thiết. Đây chính là giải pháp duy nhất của loài người. Nhưng tiếc thay, tiếng nói của các vị ấy cũng chỉ là những âm thanh vang vọng trong sa mạc hoang vắng mênh mông. Trong khi đó, nhân loại vẫn còn đang mê ngủ và chưa thể nào thoát khỏi những ám chướng truyền đời!

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2013

VỀ SỰ NGHÈO KHÓ

"Người ta hơn tớ cái phong lưu
Tớ cũng hơn ai cái sự nghèo."

(TẢN ĐÀ - NGUYỄN KHẮC HIẾU)

Cuộc sống của chàng
hết sức đơn giản! Chàng tự nguyện làm kẻ nghèo khó nên không có tiền bạc gửi vào ngân hàng, mỗi ngày vợ cho ba bữa cơm rau, mỗi tháng con cho tiền mua dăm ba cuốn sách, hai năm mới sắm một bộ áo quần; tuy nhiên, chàng vẫn cảm thấy thật mãn nguyện, bình an và hạnh phúc. Nhờ tập sống như vậy trong nhiều năm, chàng đã thoát khỏi nhiều nỗi hệ lụy và ham muốn ở chốn trần gian. Điều ý nghĩa nhất trong đời chàng là được làm "học trò" của một vài thánh nhân và được "kết bạn" với rất nhiều hiền nhân.
 

Với chàng, sống trong một xã hội vô cùng phân hóa và băng hoại khốc liệt như hiện nay, sự nghèo hèn không phải là một điều đáng phải xấu hổ! Có ai cam đảm phô trương cái nghèo của mình cho thiên hạ biết như chàng không?