Phần đông, ai cũng tự cho mình là người quan trọng, ai cũng ham
muốn tiền bạc, lạc thú, địa vị, quyền lực và sự nổi tiếng. Đây chính là căn bệnh
ung thư tinh thần của loài người. Khi con người trên mặt đất ngày càng
nhiều thì cuộc cạnh tranh để có được những thứ đó càng trở nên khốc liệt,
và vì thế cái ác cũng hiển bày dữ dội hơn. Không cần ra khỏi cửa, mỗi
ngày chỉ cần đọc vài thông tin trên internet thì cũng có thể thấy được
thế giới quanh mình đang thực sự hoảng loạn đến mức nào. Đời sống không còn
yên bình nữa!
Sự hỗn loạn và băng hoại của xã hội là do sự hỗn loạn từ nội
tâm được phóng chiếu ra bên ngoài, do đó cần phải trị liệu căn bệnh tận gốc. Nếu tâm trí của con người cứ mãi mãi bệnh hoạn thì xã hội làm sao có thể
lành mạnh được. Từ bao thế kỉ qua, người ta đã dùng đủ loại phương thuốc để
chữa trị nhưng đó là những bài thuốc chỉ làm giảm đi cái triệu chứng,
còn căn bệnh thì vẫn y nguyên. Mọi sự canh tân, mọi sự cải tổ, mọi cuộc
cách mạng ở bên ngoài không chỉ là những vá víu tạm thời mà đôi khi còn làm cho xã
hội rối loạn thêm.
Nếu con người muốn hòa bình và tồn tại trên mặt đất mà không bị diệt vong do sự tàn
phá môi sinh, chiến tranh nguyên tử, nạn đói triền miên... gây ra thì
mỗi cá nhân cần phải khởi phát một CUỘC CÁCH MẠNG TÂM THỨC. Điều mà Đức
Phật, Lão Tử, Jiddu Krishnamurti, các bậc đạo sư của Phật giáo Mật tông Tây Tạng... đã thực hiện và luôn kêu gọi một
cách khẩn thiết. Đây chính là giải pháp duy nhất của loài người. Nhưng
tiếc thay, tiếng nói của các vị ấy cũng chỉ là những âm thanh vang
vọng trong sa mạc hoang vắng mênh mông. Trong khi đó, nhân loại vẫn còn
đang mê ngủ và chưa thể nào thoát khỏi những ám chướng truyền đời!
Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013
Thứ Tư, 29 tháng 5, 2013
VỀ SỰ NGHÈO KHÓ
"Người ta hơn tớ cái phong lưu
Tớ cũng hơn ai cái sự nghèo."
(TẢN ĐÀ - NGUYỄN KHẮC HIẾU)
Cuộc sống của chàng hết sức đơn giản! Chàng tự nguyện làm kẻ nghèo khó nên không có tiền bạc gửi vào ngân hàng, mỗi ngày vợ cho ba bữa cơm rau, mỗi tháng con cho tiền mua dăm ba cuốn sách, hai năm mới sắm một bộ áo quần; tuy nhiên, chàng vẫn cảm thấy thật mãn nguyện, bình an và hạnh phúc. Nhờ tập sống như vậy trong nhiều năm, chàng đã thoát khỏi nhiều nỗi hệ lụy và ham muốn ở chốn trần gian. Điều ý nghĩa nhất trong đời chàng là được làm "học trò" của một vài thánh nhân và được "kết bạn" với rất nhiều hiền nhân.
Với chàng, sống trong một xã hội vô cùng phân hóa và băng hoại khốc liệt như hiện nay, sự nghèo hèn không phải là một điều đáng phải xấu hổ! Có ai cam đảm phô trương cái nghèo của mình cho thiên hạ biết như chàng không?
Tớ cũng hơn ai cái sự nghèo."
(TẢN ĐÀ - NGUYỄN KHẮC HIẾU)
Cuộc sống của chàng hết sức đơn giản! Chàng tự nguyện làm kẻ nghèo khó nên không có tiền bạc gửi vào ngân hàng, mỗi ngày vợ cho ba bữa cơm rau, mỗi tháng con cho tiền mua dăm ba cuốn sách, hai năm mới sắm một bộ áo quần; tuy nhiên, chàng vẫn cảm thấy thật mãn nguyện, bình an và hạnh phúc. Nhờ tập sống như vậy trong nhiều năm, chàng đã thoát khỏi nhiều nỗi hệ lụy và ham muốn ở chốn trần gian. Điều ý nghĩa nhất trong đời chàng là được làm "học trò" của một vài thánh nhân và được "kết bạn" với rất nhiều hiền nhân.
Với chàng, sống trong một xã hội vô cùng phân hóa và băng hoại khốc liệt như hiện nay, sự nghèo hèn không phải là một điều đáng phải xấu hổ! Có ai cam đảm phô trương cái nghèo của mình cho thiên hạ biết như chàng không?
Thứ Hai, 20 tháng 5, 2013
HÀNH TRÌNH VÔ ĐỊNH XỨ
Vì không bị lệ thuộc vào hệ thống biểu tượng và tín điều của một tôn giáo có tổ chức nào nên trong công cuộc truy tìm Thực Tại Tối Thượng, chàng là người
hết sức may mắn. Về mặt này, chàng được hoàn toàn Tự Do. Với chàng, những kinh
sách thiêng liêng, những giáo pháp của những bậc giác ngộ thuộc bất kì tôn giáo
hoặc nền văn hóa nào cũng đều là “ngón tay chỉ trăng”, là “tấm biển chỉ đường” giúp chàng có thể nhìn thấy được cái Thực Tại Tối Thượng. Từ kinh sách đã đọc,
chàng xem những ai đã khai mở để chàng nhận ra con người đích thực của mình chính
là những vị Chân Sư. Ngoài ra, chàng còn xem những con người đang
trên hành trình vô trụ xứ mà mình bắt gặp qua sách vở là những người bạn đường, những bậc Thiện Tri
Thức.
Tuy đọc khá nhiều kinh sách nhưng chàng không phải là thứ mọt sách, chỉ biết
chúi đầu, chúi mũi vào những con chữ nhỏ xíu mà quên đi thế giới thực tại và
cuộc sống nóng hổi ở chung quanh. Chàng không dựa vào đó để trau dồi và tích lũy kiến thức, để khoe khoang chữ
nghĩa, hoặc gặp đâu cũng trích dẫn lăng nhăng như một con vẹt mà chính là để thỏa mãn nỗi khát khao hiểu biết. Chàng cho rằng, sách vở là
vị thầy, là vợ hiền, là bạn quý, là hơi thở, là lương thực…, và trên hết là suối nguồn cảm hứng
vô tận của mình; nếu không có nó, chắc chàng sẽ khó hiện hữu và vô cùng
bơ vơ, lạc lõng trong đêm trường hoang vu lạnh lẽo này. Được lãng du trong khu rừng sách vở tâm linh và nằm yên hàng giờ trong trạng thái cô đơn với một tâm thức tĩnh lặng để đào sâu vào hiện thể và cảm nghiệm cái thực tại phi thời gian là niềm hoan lạc bất tuyệt đối với chàng. Không một tham vọng, một ham muốn nào trên thế gian còn tồn tại trong chàng.
Chàng là người lữ hành cô độc đang cố gắng băng qua sa mạc tịch liêu
với gánh nặng
quá sức trên vai, còn cơn khát thì luôn luôn cháy bỏng. Thỉnh thoảng
chàng cũng gặp được vài ốc đảo thanh bình, xanh tươi và thấp thoáng là
Quê Hương ở phía trước. Nếu không có những ốc đảo - những trạm dừng chân
để tiếp
tục tiến về phía trước - thì có lẽ chàng đã bỏ cuộc hoặc chết
khát dọc đường. Những ai đã chọn cho mình một hành trình vô định đều có
cái tố
chất điên điên, rồ rồ. Hồi sáu, bảy tuổi do chạy theo một ông anh chơi
thả
diều nên chàng bị chó điên cắn, lúc ấy dù đã được chích ngừa nhưng di
chứng của "nọc độc"
điên dại ấy còn ảnh hưởng cho đến tận hôm nay.
Khoảng
mười bảy năm trước, nhiều lúc chàng nghĩ mình là truyền nhân của
Nietzsche, nhưng thực ra không phải như vậy. Nietzsche là một thiên tài
nên
thường có giọng điệu mục hạ vô nhân (dưới mắt không người - chẳng
coi ai ra gì cả), chàng chỉ là một thường nhân nên không thể học đòi
theo kiểu
của Nietzsche được. Nietzsche là người độc thân, chẳng có mối ràng
buộc nào nên cuộc sống hơi bất thường; chàng là kẻ có vợ con, có nhiều nỗi lo toan thường nhật nên
đời
sống có phần quân bình hơn. Vị triết gia chuyên sử dụng cây búa để đập
phá truyền thống tôn giáo, triết học, văn hóa ... của Tây Phương đã sống
câm lặng trong mười
năm cuối đời là một sự “mặc như lôi” (im
lặng sấm sét) hay hoàn toàn điên loạn? Đây là một điều bí ẩn mà không ai
có
thể giải đáp được. Chàng là người Đông Phương, mà kẻ đi tìm Đạo ở Đông
Phương luôn biết nương tựa vào bậc đạo sư mỗi khi bị chơi vơi trong hố
thẳm không cùng. Vì thế, hi vọng chàng sẽ hóa thân thành hài nhi và không rơi vào bi kịch.
Tam Kỳ, Tiết Lập Hạ - 2013
Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013
NHỚ QUÊ HƯƠNG
Trong
những buổi chiều vàng Đông Phương hiu hắt, với nỗi hoài vọng mênh mông
vô tận, kẻ bị lưu đày ở chốn trần gian luôn luôn trông ngóng về QUÊ
HƯƠNG BẢN QUÁN. Dưới cái nhìn của chàng, tất cả mọi thứ - kể cả chàng -
người đang viết những dòng chữ vô nghĩa này - cũng chỉ là giả tạm và
hư ảo mà không phải là THỰC TẠI.
Giật mình tỉnh thức giữa đời
Đò xưa bến vắng từ thời ra đi.
Đường quê lối cũ sa mù
Cô liêu chiếc bóng trùng trùng mưa mau.
Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2013
ĐI TÌM CHÍNH MÌNH
"Sự thành đạt quan trọng nhất
trong đời là nhận ra cái Ta của chính mình" SRI NISARGADATTA MAHARAJ (The
Nectar of Immortality - Nước Thiêng Của Sự Bất Tử)
Cũng vì lẽ ấy mà Đức Phật và nhiều đạo sư vĩ đại khác đã từ bỏ tất cả để "đi tìm" CHÍNH MÌNH - CHÂN NGÃ - CHÂN NHƯ - THƯỢNG ĐẾ - CÁI TUYỆT ĐỐI - THỰC TẠI TỐI THƯỢNG - BẢN LAI DIỆN MỤC. Hơn hai mươi năm nay tôi cũng học đòi mon men và dò dẫm theo dấu chân các bậc chân sư hòng "tìm thấy" THỰC TẠI TỐI THƯỢNG. Nhưng đây là một hành trình cô đơn và vô định, đầy chông chênh và bất trắc!
Cũng vì lẽ ấy mà Đức Phật và nhiều đạo sư vĩ đại khác đã từ bỏ tất cả để "đi tìm" CHÍNH MÌNH - CHÂN NGÃ - CHÂN NHƯ - THƯỢNG ĐẾ - CÁI TUYỆT ĐỐI - THỰC TẠI TỐI THƯỢNG - BẢN LAI DIỆN MỤC. Hơn hai mươi năm nay tôi cũng học đòi mon men và dò dẫm theo dấu chân các bậc chân sư hòng "tìm thấy" THỰC TẠI TỐI THƯỢNG. Nhưng đây là một hành trình cô đơn và vô định, đầy chông chênh và bất trắc!
Trong trạng thái cô đơn và tịch lặng, thỉnh
thoảng tôi được nếm vài giọt linh tửu. Chỉ vài giọt linh tửu cũng đủ làm cho thần
trí tôi hứng khởi, say sưa và ngây ngất. Nỗi khao khát ngày càng cháy bỏng,
tôi giống như tên bợm rượu, càng nếm càng cảm thấy không thể nào thỏa mãn.
Cảm giác nghiện ngập đã khiến tôi dần dần từ giã những lạc thú trần thế và
tự nguyện làm người chưng cất thứ linh tửu thần diệu này.
Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013
CÁT BỤI VÔ THƯỜNG
(Tết năm Nhâm Thân - 1992)
Con chim non bé bỏng của ngày ấy đã rời xa tổ ấm và bay đến những
vùng trời xa lạ, còn người cha vẫn ngồi đây với râu tóc đã bạt ngàn lau lách.
Thoắt một cái mà đã hai mươi mốt năm trôi qua, cuộc đời giống như cơn đại
mộng.
Vài mươi năm sau nữa, khi đứa con trai bằng tuổi người cha bây giờ thì có
lẽ thân xác người cha đã trở về với cát bụi. Ôi, vạn vật vô thường! Ôi, cát bụi
tuyệt vời! Ôi, mộng đời bất tuyệt!
Tam Kỳ, tháng 04/2013
Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2013
CÂU CHUYỆN DÒNG SÔNG (SIDDHARTHA)
Hermann Hesse là nhà văn bậc thầy mà tôi yêu quý nhất. Câu
Chuyện Dòng Sông là người bạn đường của tôi đã 30 năm nay và mãi mãi là bạn
đường cho đến khi tiếng chuông gọi hồn vang lên kêu gọi kẻ lữ thứ ở chốn trần
gian này đi về một phương trời vô định.
Những dòng chữ ngắn ngủi trên đã thay lời tạ ơn của tôi đối
với Hermann Hesse - người đã mở đôi mắt mù lòa của tôi để tôi được nhìn thấy
một thế giới Tâm Linh đầy hân hoan và quyến rũ.
Xin giới thiệu cùng thân hữu lời giới thiệu của dịch giả
Phùng Khánh (Ni sư Trí Hải) dành cho tác phẩm Câu Chuyện Dòng Sông của Hermann
Hesse do NXB An Tiêm in lần thứ 3, năm 1967.
Lời Người Dịch
Quyển “Câu Chuyện Dòng Sông” dịch từ truyện “Siddhartha”
trong tập “Weg nach Innen” (Đường về nội tâm) của Hermann Hesse.
Hermann Hesse là một văn hào của
văn học Đức ở thế kỷ XX, sống cùng một thế hệ với Thomas Mann, Werfel,
Wassermann và E. V. Salomon.
Hermann Hese sinh năm 1877, được giải thưởng Nobel Văn
chương năm 1946, tác giả nhiều tập thơ và nhiều cuốn tiểu thuyết bất hủ như
Peter Camenzind (1904), Demian (1919), Siddhartha (1922) Der Steppenwolf
(1927), Naziss und Goldmund (1930), Das Glaserlenspiel (1943) (*)
Tất cả tác phẩm của Hermann Hesse đều nói lên niềm cô đơn
tâm linh của con người thời đại, nỗi thao thức triền miên của những tâm hồn
khát khao đi tìm một chân trời mới cho mình và nhất là những nỗ lực vô hạn để
vươn lên mọi ràng buộc của thân phận làm người. Trọn tác phẩm của Hermann Hese
là lời thánh ca bay vút lên chín tầng trời, vọng lên nỗi đau đớn vô cùng của
của kiếp sống và lòng hướng vọng nghìn đời của con người, dù bơ vơ bất lực mà
vẫn luôn luôn tha thiết đi tìm giải thoát ra ngoài mọi giới hạn tầm thường của
đời sống tẻ nhạt:
"Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương
trần gian điên dại này"
Und allem Weh zum Trotze beib ich.
Verliebt in die verrucki Welt.
Khi viết dòng thơ trên phải chăng Hermann Hesse đã muốn nói
lên tất cả ý nghĩa của sự nghiệp văn chương ông giữa cơn biến động phũ phàng
của thời đại? Ý nghĩa thâm trầm ấy cũng bàng bạc trong Câu Chuyện Dòng Sông.
Đọc Câu Chuyện Dòng Sông, chúng ta sẽ thấy rằng cuộc đời
đáng sống và chứa đựng những hương sắc tuyệt vời, mà chúng ta thường bỏ quên và
đánh mất giữa đời sống thường nhật. Câu Chuyện Dòng Sông là câu chuyện của mỗi
người chúng ta: đó cũng là hình ảnh muôn thưở của trần gian và mộng đời bất
tuyệt.
Phùng Khánh
(*) Ghi chú của Hồ Phú Hùng: Những tác phẩm nói trên đã được dịch ra tiếng Việt - trừ tác phẩm cuối cùng Das Glaserlenspiel (Trò Chơi Hạt Thủy Tinh).
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
