Thứ Tư, 17 tháng 2, 2016

VÔ ĐỀ

Ngoài kia ngày nổi cơn giông
Trong ta đêm xuống mênh mông mịt mờ
Tử sinh, sinh tử vô cùng
Lắng nghe trong cõi nghìn trùng hư không
Nghe ta còn quá vong nô
Nghe người còn những u mê tháng ngày
Mai kia thân xác hao gầy
Hồn ta nương chốn mây ngàn xa xa
Bao giờ thoát giấc chiêm bao
Về nơi quê cũ rong chơi cùng Người

Tam Kỳ, 17/02/2016


Thứ Tư, 27 tháng 1, 2016

LAN MAN TỪ TẬP TÙY BÚT CỦA VÕ PHIẾN

Cách đây vài tháng, Võ Phiến, cây đại thụ của nền văn học Việt Nam đã ra đi vĩnh viễn tại xứ người. Để tưởng nhớ nhà văn Võ Phiến, tôi - một kẻ không chuyên về văn học - muốn lan man đôi chút về ông.
Võ Phiến tên thật là Đoàn Thế Nhơn, sinh năm 1925 tại Phù Mỹ, Bình Định; mất năm 2015 tại California - Hoa Kỳ. Ông là nhà văn nổi tiếng ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975. Bỏ qua xu hướng chính trị của ông, chỉ bàn riêng về văn học thì Võ Phiến là một cây bút ngoại hạng. Ngòi bút của ông bao quát nhiều lĩnh vực: truyện ngắn, tiểu thuyết, tùy bút, phê bình và tiểu luận. Ở đây tôi chỉ muốn nhắc đến một tập tùy bút rất tinh tế và sắc sảo của ông, phần giới thiệu nội dung của nó thì nhờ người khác nói thay ở bên dưới.
Năm 2012, nhà sách Nhã Nam kết hợp với NXB Thời Đại đã cho ra mắt tập tùy bút Quê Hương Tôi của ông, nhưng vì lí do “tế nhị” nên bút danh Võ Phiến được thay thế bằng một bút danh khác ít được biết đến là Tràng Thiên. Đó là một nỗ lực lớn của những người làm sách có tâm huyết, họ đã thành công trong việc xuất bản những tác phẩm bị những nhà viết văn học sử cố tình lãng quên. Quê Hương Tôi bao gồm tập tùy bút Đất Nước Quê Hương (Lửa Thiêng, Sài Gòn - 1973) và một số tùy bút rải rác khác. Đây là một niềm vui của bạn đọc và là sự an ủi đối với một ông già đã gần đất xa trời.
Điều đặc biệt với tôi là trong tập tùy bút này, có một bài viết mang tựa đề Mưa và thơ, đây là bài viết về thị xã Tam Kỳ nhỏ bé ngày ấy. Tuy bài tùy bút nói trên không xuất sắc bằng những bài khác, nhưng với tôi nó thật đáng yêu, bởi nó nói về nơi chôn nhau cắt rún của mình. Tháng mười năm 1970, nhân dịp đi công việc tại tỉnh Quảng Tín cũ (bây giờ là Quảng Nam), ban đêm ông đã ở lại một phòng trọ tại Tam Kỳ. Ông kể lại chuyện nửa đêm nằm ngủ bị mưa to gió lớn, và rồi nước lụt tràn lên mấp mé giường nằm, để sáng ra ông phải di tản đến một ngôi nhà của người quen. Đọc chuyện nước lụt tràn vô nhà trọ, tôi liên tưởng ngay đến phòng ngủ Kim Liên - gần Ngã Ba Nam Ngãi, thời ấy Tam Kỳ chỉ có duy nhất cái nhà trọ tư nhân này. Ngã Ba Nam Ngãi là một địa danh vô cùng thân quen với cư dân Tam Kỳ, nhưng hôm nay dần dần trở nên xa lạ. Phòng ngủ Kim Liên là một trong những khu vực trũng của cái thị xã nhà quê này, trước đây nhà tôi cũng nằm trên trục đường trũng, nên vào mùa đông, nếu mưa lớn kéo dài vài ngày thì nửa đêm nước tràn vào nhà và dâng lên là lẽ thường tình. Nhờ nước lụt, ông được ăn món ram được làm bằng tôm nò tươi rói. Cách đây chừng mười lăm năm mà thôi, mỗi khi có lụt thì quê tôi tôm cá ê hề, rẻ không thể tưởng; nhưng hôm nay đã khác hẳn. Thời “huy hoàng” ấy đã qua, mỗi khi đọc bài tùy bút này của ông tôi lại thêm nuối tiếc.
Nếu tập tùy bút Vang Bóng Một Thời đã đem đến danh tiếng cho nhà văn Nguyễn Tuân vào những năm trước năm 1945, thì tập tùy bút Đất Nước Quê Hương làm tăng thêm danh tiếng cho Võ Phiến vào những năm trước năm 1975. Người ta thường so sánh Nguyễn Tuân và Võ Phiến, nhưng bất cứ sự so sánh nào cũng có thể trở thành khập khiễng. Với tôi, Võ Phiến còn sâu sắc hơn Nguyễn Tuân. Đọc tùy bút của Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Võ Phiến... là đọc lại chính mình, đọc để thấy được tâm hồn và tâm thức Việt. Đọc để biết nâng niu gìn giữ tiếng mẹ đẻ của mình, để yêu thương quê hương, đất nước và đồng bào một cách tự nhiên. Bằng những rung động lạ thường của những tâm hồn tế nhị, bằng cái nhìn tinh tế của những nghệ sĩ thượng đẳng, những nhà văn ấy đã cho ta cảm nhận được hơi thở đời sống của một thời quá vãng trên từng trang viết. Những con chữ được gọt giũa cẩn thận ấy đã gợi lên trong ta một sự hoài cổ nhẹ nhàng, giúp ta cảm nhận được cái đẹp trong những sự việc đơn sơ, nhỏ bé. Trong phút chốc, cõi lòng ta bỗng rộng mở và quên đi những lo âu, muộn phiền trong đời sống thường nhật.
Lớp người trưởng thành sau năm 1975 chắc cũng hiếm người biết đến ông. Riêng lớp trẻ hiện nay, nếu ai đó nhắc đến cái tên Võ Phiến chắc họ chẳng hình dung ra được điều gì. Phần lớn người Việt hiện nay chỉ biết kiếm tiền và hưởng thụ những thú vui thân xác mà quên đi chuyện nuôi dưỡng tâm hồn. Họ chẳng cần phải đọc, phải suy tưởng làm gì cho mệt óc; mối quan tâm của họ là vị trí công việc, là thưởng thức bia rượu và món ăn ngon, là xe cộ và thời trang. Chỉ vừa mới đây thôi, trong một bài báo có tiêu đề "Nhậu" nhiều, đọc ít và sự lên ngôi của văn hóa rẻ tiền cho biết: "Ngành văn hóa thu được 2000 tỷ đồng từ các hoạt động xuất bản với 24.000 cuốn sách, 375 loại ấn phẩm. Một lĩnh vực khác xem chừng ít liên quan đến sách vở là 3 tỷ lít bia được tiêu thụ nếu quy ra tiền sẽ là 66.000 tỷ đồng, gấp 33 lần tiền mua sách". Qua thông tin trên, chúng ta nghĩ đến điều gì? Đến đây, tôi lại lan man mất rồi.
Khi viết ra những dòng chữ này, tôi không có ý coi thường bất cứ một ai, tôi chỉ thấy buồn và rất buồn. Bị hít thở trong bầu không khí ô nhiễm, bị dưỡng dục trong một môi trường thiếu dưỡng khí thì tinh thần sẽ là đà mặt đất, làm sao có thể vươn lên trời cao là lẽ đương nhiên. Nhiều khi vì không muốn mất thời giờ nên tôi chẳng muốn viết lăng nhăng nữa, nhưng rồi cũng cứ viết. Đọc những bài như thế này, giới trẻ có thể bực mình vì những chuyện lẩm cẩm. Biết vậy mà vẫn làm vậy là u mê lắm rồi. Thôi thì tự nhận mình là u mê vậy!

Chương trình Sách Hay Mỗi Ngày giới thiệu về tùy bút Quê Hương Tôi

Thứ Tư, 20 tháng 1, 2016

VỀ MỘT NGƯỜI HIỀN NAM BỘ

Đã nhiều lần tôi tự hứa với mình là không nên viết nhăng viết cuội ở đây nữa, nhưng rồi vẫn bị cái “nghiệp chướng” này lôi kéo. Tôi không nghiện viết lắm nhưng không hiểu sao có cái gì thôi thúc mình phải mở máy tính, thế rồi bàn phím trở thành trung gian cho những xúc cảm và suy tưởng của mình. Thôi thì đành chiều theo tiếng lòng chứ biết làm sao bây giờ? Tuy vậy, tôi phải tự nhắc nhở rằng: Mi nên kiệm lời.
Năm 2011, nhờ đọc được bài viết Thăm nhà văn Trang Thế Hy trong tập bút kí Nhớ Đến Một Người của BS. Đỗ Hồng Ngọc, tôi mới biết đến nhà văn Trang Thế Hy - một cái tên lạ hoắc lạ huơ. Khi tìm được tác phẩm của ông, tôi mới có dịp thưởng thức một bài viết tuyệt hay của nhà văn Nguyên Ngọc đã dành cho ông, bài viết có nhan đề Người hiền của văn chương Nam Bộ. Nếu không nhờ BS. Đỗ Hồng Ngọc, tôi không thể biết Trang Thế Hy là ai, cũng như chẳng biết ông là tác giả của bài thơ Cuộc Đời - bài thơ từng được Phạm Duy phổ thành nhạc phẩm Quán Bên Đường. Thời trai trẻ, lúc tập bài nhạc này, tôi cứ ngỡ đây là một bài nhạc được phổ từ thơ của một nhà thơ thời tiền chiến. Ngờ đâu, bài thơ chỉ "mới" xuất hiện trên tuần báo Vui Sống vào năm 1959 tại Sài Gòndo Bình Nguyên Lộc làm chủ bút .
Khi đọc Trang Thế Hy, tôi cũng yêu mến ông như đã từng yêu mến Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, Vũ Bằng, Võ Hồng, Võ Phiến, Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc. Vì sự quan tâm của tôi dành cho lĩnh vực khác nên tôi ít để ý đến những sự kiện văn học đương đại trong nước cũng như của thế giới. Nhưng không phải vì thế mà tôi ruồng rẫy những tác phẩm văn chương mang tính triết lí, những đoản văn và những tùy bút làm rung động lòng người. Tôi là người ưa tìm kiếm những nguồn ánh sáng của quá khứ, thích lục lọi những “lọ cổ - chén xưa” trong đống đồ cũ, thỉnh thoảng lại đem ra nâng niu và mời thiên hạ nhìn ngắm.
Nhìn thấy sự băng hoại của xã hội, sự lụi tàn của đạo làm người trên quê hương và nhất là cảnh bạo lực trong học đường, tôi thường lẩn thẩn: "Phải chi những năm bắt đầu cắp sách, con trẻ thời nay được nuôi dưỡng tâm trí bằng những dòng văn chương chuyên chở sự tinh tế, nhân hậu, chân thật, thương yêu và bao dung thì về sau tâm trí chúng sẽ được đề kháng mạnh mẽ với những thứ dung tục, bạo lực, giả dối, hận thù và ích kỉ.". Ngẫm lại, tôi thấy đã mình mang ơn nền giáo dục của miền Nam Việt Nam ngày trước rất nhiều. Như dòng sữa mẹ ngọt ngào tuôn chảy, nguồn thơ văn nhẹ nhàng và hiền hòa ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi từ thuở ấu thời. Ở đây, tôi chỉ ca ngợi nền giáo dục của miền Nam chứ không hề có ý đồ ca ngợi thể chế chính trị trước đây - thời ấy chính trị và giáo dục không ăn nhịp với nhau. Ô hay! Từ câu chuyện về nhà văn Trang Thế Hy, tôi lại sa đà vào chuyện khác mất rồi. 

Chiều nay, tôi lần giở tập bút kí của Đỗ Hồng Ngọc nói trên để đọc lại bài viết về Trang Thế Hy. Đọc xong, tôi có cảm hứng muốn giới thiệu bài viết của vị bác sĩ này đến mọi người. Và rất may, tôi đã tìm thấy bài viết Thăm nhà văn Trang Thế Hy trên trang nhà của BS. Đỗ Hồng Ngọc.

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

THẮP SÁNG TƯƠNG LAI

Sau gần một tháng gia đình tôi được sum họp trong cảnh yên vui và đầm ấm, con tôi lại đi xa để tiếp tục công việc còn đang dang dở. Trong những ngày qua, mỗi khi chìm đắm trong tĩnh lặng, tôi hay hồi tưởng đến quãng thời gian con tôi còn nhỏ dại.

Căn gác cũ kĩ trong mái nhà xưa đã trở thành quá khứ, khoảng không gian bé nhỏ ấy là nơi lưu dấu bao kỉ niệm êm đềm của cha con tôi giờ đây thuộc về miền kí ức. Dấu tích xưa còn lại là cây đàn organ điện tử và một kệ sách khoảng hơn hai trăm cuốn của con tôi thuở nhỏ - hiện đang nằm trong căn phòng mới của con tôi. Chiều nay nhìn giá sách, tôi bồi hồi nhớ lại hình ảnh đứa bé ngày xưa thường say mê và cặm cụi trên từng trang sách nhỏ. Lướt qua từng dãy sách mà một thời tôi đã cùng đọc với con trai, bỗng nhiên ánh mắt tôi dừng lại nơi cuốn Tâm Hồn Cao Thượng. Tay mân mê và nhẹ nhàng lật từng trang sách, tôi bắt gặp lại bài Học ĐườngHọc Đường là một bài viết có ý nghĩa nhất trong Tâm Hồn Cao Thượng mà tôi bắt buộc con tôi phải học thuộc lòng và chép đi chép lại nhiều lần để rèn luyện nét chữ. Cuốn vở học trò mà con tôi đã chép cẩn thận những bài học giá trị với nét chữ khá đẹp lúc còn đang học lớp ba đã bị thất lạc từ lâu. Khi con tôi đi học xa, tôi đã tìm đi tìm lại nhiều lần nhưng nó vẫn không lộ diện. Là người hay lưu giữ những kỉ vật của con và mang lòng hoài cổ nên đến giờ tôi vẫn còn hối tiếc.

Hỡi các bậc cha mẹ trẻ! Hãy lưu giữ cẩn thận những kỉ vật thuở ấu thời của những đứa con. Khi trẻ thơ trưởng thành, gia sản này sẽ làm phong nhiêu tâm hồn của chúng. Trước những giông gió phũ phàng của cuộc đời, cõi lòng chúng sẽ lắng dịu, tình yêu thương sẽ đâm chồi nảy lộc và cuối cùng chúng sẽ vượt qua được cơn thử thách.

HỌC ĐƯỜNG 

Enricô con ơi! Việc học đối với con hình như khó nhọc, mẹ con nói phải đấy. Cha chưa bao giờ trông thấy con đi học với cái dáng quả quyết và nét mặt hớn hở như cha mong muốn! Con thử tưởng tượng nếu con ngồi không ở nhà thì ngày giờ của con sẽ trống trải biết là dường nào! Cha chắc chỉ trong vòng một tuần lễ là con lại muốn trở lại nhà trường. Con ơi! Hiện thời, không một đứa trẻ nào là không đi học. Con hãy nghĩ đến những người thợ làm lụng cặm cụi cả ngày, tối đến còn phải cắp sách đi học, những cô thiếu nữ suốt tuần lễ bị giam giữ trong xưởng, chủ nhật đến cũng rủ nhau đi học, những binh lính hết giờ luyện tập cũng đem ra học, viết. Cho đến những trẻ mù, trẻ câm, chúng cũng đều học cả.

Mỗi buổi sáng, lúc con ra trường, con hãy nghĩ cùng giờ ấy, trong thành phố ta có tới ba vạn đứa trẻ cũng như con đi “chầu’’ lớp học trong ba tiếng đồng hồ để được mở mang trí tuệ. Con lại nghĩ: Xấp xỉ giờ này, con trẻ trong các nước trên hoàn cầu đều đi học cả. Con hãy tưởng tượng những trẻ lếch thếch trên những đường hẻm nhà quê, rảo bước trong các phố phường huyên náo, dưới bầu trời oi ả hay trong cơn mưa tuyết lạnh lùng, chúng đi thuyền ở những xứ lắm sông ngòi, cưỡi ngựa qua những cánh đồng mông quạnh, hoặc ngồi “xe trượt’’ trên những bãi băng giá lạnh. Chúng xuống lũng, lên đồi, chúng xuyên rừng lội suối, chúng vượt qua những ngọn đồi hẻo lánh hoang vu. Ăn mặc hàng nghìn lối khác nhau, nói bằng trăm thứ tiếng khác nhau, chúng đi một mình hay lũ năm lũ ba, sách cắp trong tay hay cặp đeo dưới nách.

Từ ngôi trường cùng tột lấp trong ánh tuyết nước Nga cho tới nóc trường hẻo lánh lẩn trong khóm gồi xứ Ả Rập, có tới hàng triệu triệu đứa trẻ cùng học một điều bằng những thể thức khác nhau.

Con lại tưởng tượng cái tổ kiến học sinh ấy gồm có hàng trăm dân tộc khác nhau và cái trường hoạt động ấy, con có cái hân hạnh dự phần rồi con tự nhủ: Ví phỏng một mai sự hoạt động ấy ngừng hẳn thì nhân loại sẽ trở lại đời mọi rợ, sẽ sa vào cõi tối tăm, sự hoạt động ấy là sự tiến bộ, là mối hy vọng, là ánh sáng vinh quang của thế giới vậy.

Cố lên! Tên lính nhỏ trong đạo quân lớn lao kia! Cố lên! Con ơi! Lấy sách vở làm khí giới, lấy lớp học làm quân đội, lấy thế giới làm bãi chiến trường, coi sự ngu dốt là cừu địch và lấy sự văn minh của nhân loại làm cuộc khải hoàn, con phải phấn đấu luôn luôn và chớ hề làm tên lính hèn nhát.

Tâm Hồn Cao Thượng - Edmond De Amicis (Hà Mai Anh dịch)

CHA VÀ CON



















Tình cờ, tôi sưu tầm được một bài luận của một học sinh viết về người cha thân yêu của mình. Bài luận này là một trong những bài luận mà một đại học Mỹ đã yêu cầu thí sinh phải hoàn thành khi nộp hồ sơ xin học đại học. Chủ đề của bài luận là “Hãy kể cho chúng tôi nghe về người đã ảnh hưởng đáng kể đến cuộc đời của bạn” .

Nhận thấy đây là một bài luận hay nên tôi đã tập tò dịch ra tiếng Việt với mục đích chia sẻ cho những bạn trẻ hiện đang có con trong độ tuổi cắp sách đến trường. Từ trải nghiệm bản thân - làm con rồi làm cha - tôi nghĩ rằng những bậc cha mẹ bớt thời gian tìm kiếm danh lợi, ít vui chơi và hưởng thụ cá nhân nhưng dành nhiều thời gian cho con trẻ thì sẽ nhận lại được niềm tin yêu, sự kính trọng và lòng hiếu thảo. Đây là những báu vật mà không bạc tiền nào có thể mua được. Có những món quà vô giá mà đứa trẻ sẽ hân hoan nhận lấy và mãi mãi biết ơn.Thời gian trôi qua rất nhanh, con cái bạn sẽ lớn nhanh như thổi và lúc ấy bạn không thể gần gũi chúng như thuở còn ấu thơ. 

Mười tám năm về trước, khi đọc câu chuyện ngắn về tình cha con của nhà văn Benjamin  J. Stein (Ưu Tiên Một Của Tôi - Lê Anh Dũng dịch), tôi đã xúc động một cách dị thường. Theo ý của riêng tôi, lời kết của tác giả trong câu chuyện: "Dành thời gian cho con, nào phải đâu tôi đã bỏ qua những việc trọng đại trong đời. Dành được thời gian cho con, đó mới chính là điều trọng đại." luôn luôn là chân lí sâu sắc mà tác giả đã sớm lĩnh hội được trong lúc nuôi dạy con cái.
  
Với tôi, sự thất bại lớn lao nhất của cha mẹ không phải là có những đứa con không thành đạt ngoài xã hội; mà sự thất bại lớn lao nhất của cha mẹ là có những đứa con không biết thương yêu và kính trọng bậc sinh thành.

BÀI LUẬN:

Ông là một người không có bằng cấp nào đặc biệt, không đạt những thành tích lớn lao và không có tên tuổi gì cả. Giống như mọi người khác, ông chỉ là một con người bình thường; nhưng đối với tôi ông là người có một tính cách độc nhất vô nhị, sở hữu một sự uyên bác hiếm có và gây ảnh hưởng lạ thường đối với tôi. Ông chính là ba tôi.

Do hoàn cảnh bắt buộc, việc học của ba tôi chấm dứt sau bậc trung học phổ thông, tuy vậy ông đã tự phát triển bản thân mình và truyền lại cho tôi một tính ham hiểu biết đặc biệt về kiến thức. Tôi nhớ lại một cách sống động rằng tôi rất thích thú trong những tiệm sách vào ngày cuối tuần, trong thời gian đó ông đã dùng tất cả số tiền tiết kiệm có được để thành lập một thư viện của gia đình. Vào lúc tám tuổi, tôi bắt đầu đọc Túp lều chú Tom và những câu chuyện về Albert Einstein; vào lúc mười lăm, tôi quay sang đọc Hermann Hesse và Stephen Hawking. Nhưng không chủ đề nào tôi đọc mà ba tôi không luôn luôn khích lệ và chỉ dẫn tôi, ngoài ra ông còn tìm kiếm sự giải thích từ bạn bè của ông bất cứ khi nào ông không thể làm sáng tỏ một khái niệm trừu tượng.

Bên cạnh sự khát khao hiểu biết, tôi cũng thừa hưởng sự kiên trì và tính quả quyết của ông. Mặc dù không có sự rèn luyện từ trước, nhưng khi tôi được năm tuổi, ông bắt đầu tự học và dạy tôi chơi đàn organ điện tử ba giờ mỗi đêm. Sự bền bỉ đã truyền cảm hứng cho tôi trong nhiều năm, tôi đã luyện tập ít nhất thêm hai giờ sau những buổi giảng dạy của ông. Chúng tôi đã làm việc một cách kiên nhẫn, cuối cùng công việc này cũng đem lại cho chúng tôi một kết quả đáng tự hào: tôi được xếp vị trí thứ nhất trong kì thi đàn Organ cấp tỉnh. Nhưng chính sự phát triển cảm xúc mạnh mẽ về âm nhạc, sự rèn luyện tinh thần của chính tôi và sự sẵn sàng vượt qua những trở ngại ở phía trước mới là những thứ đem đến cho ba tôi một niềm vui sướng lớn lao nhất.

Ba tôi cũng khắc sâu trong tôi ý thức về trách nhiệm và sự đồng cảm trong sự quan hệ với mọi người xung quanh thông qua lòng nhân đạo hay qua việc phô bày cho tôi thấy cảnh nghèo khó trên xứ sở của chúng tôi. Lúc tôi lên mười, tôi bắt đầu theo ông đi đến những gia đình nghèo khổ ở những miền quê lân cận để trò chuyện và tặng quà cho những trẻ em trạc tuổi tôi. Khi lớn lên, tôi đã sử dụng nhiều mùa hè dạy miễn phí tiếng Anh cho trẻ em ở những vùng nông thôn của tỉnh nhà. Thỉnh thoảng tôi cảm thấy đè nặng nhưng sự mệt nhọc này đã tiêu tan lập tức khi nghĩ rằng sự thi ân của tôi có thể đem lại cho những người ấy một sự may mắn nhỏ.

Tất cả mọi thứ tôi đều chịu ảnh hưởng sâu sắc từ ba tôi; nếu không có ông tôi đã trở thành một con người hoàn toàn khác. Ông cũng cho tôi thấy rằng, ẩn giấu trong một con người trông vẻ ngoài bình thường có thể là người có trái tim bằng vàng và một tính cách có một không hai. Điều quan trọng nhất là ông đã giúp tôi những bước đi lớn nhất trong cuộc hành trình của đời tôi: dạy cho tôi biết thế nào để đứng vững trên đôi chân của mình và luôn giúp đỡ người khác.

Tam Kỳ, tháng 09/2015

Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2015

TẠ ƠN NGƯỜI

Giữa năm 1998, một người quen cho tôi mượn tập sách mỏng photocopy có tựa đề Tinh Túy Trong Sáng Của Đạo Lý Phật Giáo của Phạm Công Thiện. Tôi đọc xong liền đem trả ngay và nói với họ rằng, đây là một cuốn sách giả mạo, cuốn sách này do người khác viết ra và đề tên Phạm Công Thiện. Vì sao tôi lại khẳng định như vậy? Năm ba mươi hai tuổi, tôi “bắt gặp” Phạm Công Thiện. Đối với tôi, ông có một sức hút đầy ma lực; từ chỗ yêu mến và say mê, tôi tìm đọc gần hết các tác phẩm của ông được xuất bản trước năm 1975. Do ăn nằm với ông khá lâu nên tôi quá quen thuộc văn phong và tính cách của ông. Nhận thấy trong Tinh Túy Trong Sáng Của Đạo Lý Phật Giáo không thể hiện rõ cá tính của ông nên tôi không suy nghĩ mà phán liền như thế. Đây chính là một sự sai lầm chủ quan.

Vì quá tin vào sự hiểu biết của mình nên tôi mới mắc bệnh chủ quan. Tại sao tôi quá tin vào sự hiểu biết của mình? Số là như thế này. Do trở ngại về chuyện xe cộ trong một chuyến đi ra miền Trung vào năm 1997, thầy Tuệ Sỹ có ghé lại chùa Hòa An, Tam Kỳ để nghỉ lại một đêm. Được tin ấy, người bạn vong niên của tôi - người trước đây từng là tì kheo, về sau hoàn tục - đến nhà tôi và hỏi rằng tôi có muốn gặp thầy Tuệ Sỹ không. Trong thời gian ấy, thầy Tuệ Sỹ vẫn còn là người mà nhà nước không có thiện cảm. Tuy rất ngại chuyện rắc rối với chính quyền sau khi gặp thầy, nhưng do nhu cầu giải tỏa những thắc mắc về học thuật nên tôi đánh liều đến chùa để gặp thầy. Trước năm 1975, thầy Tuệ Sỹ từng giảng dạy tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn (Viện ĐH Vạn Hạnh là nơi tập trung những giáo sư lỗi lạc về Phật học, về Khoa học Xã hội và Nhân văn của miền Nam), thầy từng làm Thư ký tòa soạn Tạp chí Tư Tưởng - cơ quan luận thuyết của Viện ĐH Vạn Hạnh. Vì thế, thầy hiểu rất rõ nền học thuật tại đây.

Qua vài câu xã giao, tôi đi thẳng vào hai vấn đề mà tôi không biết hỏi ai. Câu hỏi thứ nhất: Thưa thầy! Theo con, cuốn sách Trước Sự Nô Lệ Của Con Người tuy là đứng tên Hòa Thượng Thích Minh Châu nhưng do ông Phạm Công Thiện viết. Bởi vì cách hành văn và kiến thức trong cuốn sách hoàn toàn là của ông Phạm Công Thiện (đã được Phạm Công Thiện tỉa bớt sự góc cạnh và cách phát biểu hùng hồn). Không biết nhận định của con có đúng như vậy không? Thầy Tuệ Sỹ đã chấp nhận là tôi nói đúng, cuốn sách đó là do Phạm Công Thiện viết ra. Câu hỏi thứ hai: Thưa thầy! Sau khi Phạm Công Thiện sang Pháp, tạp chí Tư Tưởng không còn được như xưa, bài vở có chiều đi xuống, không hiểu vì nguyên nhân gì mà có chuyện như vậy? Thầy Tuệ Sỹ trả lời rằng, sau khi ông Phạm Công Thiện sang Pháp thầy thay thế ông ấy làm chủ bút tạp chí Tư Tưởng, kiến thức của thầy không bằng kiến thức của ông Phạm Công Thiện nên tạp chí Tư Tưởng không còn khởi sắc như xưa. Sau khi nghe thầy trả lời câu hỏi thứ hai, tôi thấy mình hơi thiếu tế nhị và xin lỗi thầy vì không biết là thầy phụ trách tạp chí Tư Tưởng trong gia đoạn đó nên mới đặt câu hỏi. Thầy bảo là không sao đâu! Đức độ của người tu hành thật có khác, thầy Tuệ Sỹ là một thiên tài của Phật giáo Việt Nam, được người người ngợi ca - kể cả thi sĩ Bùi Giáng - vậy mà thầy vô cùng khiêm tốn, nhận điều dở về mình và nhường điều hay cho người khác.

Câu chuyện kể trên là sự thực hoàn toàn, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay không ai dám bịa đặt một câu chuyện động trời như thế. Một kẻ vô danh tiểu tốt như tôi không đủ sức hạ giá trị học thuật của những bậc chân tu như thầy Minh Châu (Viện trưởng Viện Đại học trước năm 1975 và Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học sau năm 1975) và thầy Tuệ Sỹ. Hai vị là người tu hành nên chuyên về nội điển (Phật học), vì thế không thể bao quát hết phần ngoại điển (thế học) như ông Phạm Công Thiện là lẽ dĩ nhiên. Cuốn sách Trước Sự Nô Lệ Của Con Người là Bản Thệ của Viện ĐH Vạn Hạnh nên dù do bất kì người nào chấp bút, thầy viện trưởng đã đứng tên vẫn là điều đúng đắn.

Mục đích của câu chuyện này cho biết, tôi là thế hệ trưởng thành sau năm 1975 nhưng đã hiểu Phạm Công Thiện đến từng chân tơ kẽ tóc. Cũng do suy nghĩ như vậy nên tôi đã mắc phải sai lầm trong việc cho rằng cuốn sách Tinh Túy Trong Sáng Của Đạo Lý Phật Giáo không phải là của Phạm Công Thiện. Thực ra, qua sách vở, tôi mới chỉ biết về Phạm Công Thiện thời còn ở Việt Nam và thời còn làm Khoa trưởng Văn Khoa và Khoa Học Nhân Văn của Viện ĐH Vạn Hạnh. Tôi chưa biết hành trình tư tưởng của ông sau khi sang Pháp, chưa hiểu rõ về một Phạm Công Thiện khác. Vài năm sau đó, khi đọc được cuốn Những Bước Chân Nhẹ Nhàng Trở Về Sự Im Lặng của ông, tôi mới hiểu rõ là bắt đầu vào năm 1983, ông đã hoàn toàn chuyển hóa tâm thức. Đây chính là bước khởi đầu cho chặng đường cuối cùng trong cuộc hành trình phiêu lưu vào những dòng tư tưởng của ông. Sự chuyển hóa của Phạm Công Thiện manh nha từ Những Bước Chân Nhẹ Nhàng Trở Về Sự Im Lặng, càng về sau thì càng triệt để hơn. Những lời lẽ trong những cuốn sách được ông xuất bản nối tiếp Những Bước Chân Nhẹ Nhàng Trở Về Sự Im Lặng thật nhẹ nhàng và khiêm tốn, nó không phải là thứ ngôn từ đầy kiêu ngạo như trước đây.

Sau khi thi sĩ Bùi Giáng qua đời, giới văn nghệ và tu sĩ Phật giáo đã viết bài về ông, những bài viết chọn lọc được đưa vào tập Tưởng Niệm Thi Sĩ Bùi Giáng. Tập sách mỏng này được in thủ công và lưu hành nội bộ. Qua bài viết của Thích Nhuận Châu, tôi mới biết năm 1998, Phạm Công Thiện đã cho xuất bản tại Mỹ hai tập sách mỏng có tựa đề là Tinh Túy Trong Sáng Của Đạo Lý Phật Giáo và Làm Thế Nào Để Trở Thành Một Bồ Tát Sáng Rực Khắp Bốn Phương. Tinh Túy Trong Sáng Của Đạo Lý Phật Giáo là cuốn sách mà cách đây mấy tháng, tôi đã cả gan phủ nhận là không phải của Phạm Công Thiện.

Sau gần hai năm lao tâm khổ tứ tìm kiếm, đầu năm 2000, Tinh Túy Trong Sáng Của Đạo Lý Phật Giáo và Làm Thế Nào Để Trở Thành Một Bồ Tát Sáng Rực Khắp Bốn Phương được in thủ công (in bằng bản lụa) mới đến tay tôi. Từ đó đến nay, thỉnh thoảng tôi vẫn mở cuốn Tinh Túy Trong Sáng Của Đạo Lý Phật Giáo ra để đọc; còn cuốn Làm Thế Nào Để Trở Thành Một Bồ Tát Sáng Rực Khắp Bốn Phương thì tôi không dám đụng đến - sau khi đã đọc qua vài lần. Làm Thế Nào Để Trở Thành Một Bồ Tát Sáng Rực Khắp Bốn Phương được dành cho những vị muốn theo hạnh nguyện của những bậc Bồ tát, phàm phu tục tử như tôi thì đành “kính nhi viễn chi” thôi. Tinh Túy Trong Sáng Của Đạo Lý Phật Giáo là cuốn sách chỉ 114 trang nhưng đáng kinh ngạc, bởi nó có thể làm thay đổi vận mệnh của một con người. Quyển sách này và quyển sách Những Bước Chân Nhẹ Nhàng Trở Về Sự Im Lặng đã xô đẩy tôi vào thế giới thần bí, mênh mông của Phật giáo Mật tông Tây Tạng. Nhờ đó mà tôi hiểu rõ về cái chết, về thế giới bên kia cửa tử và sự tái sinh để tôi có thể đối diện với cái chết một cách bình thản và không sợ hãi. Chết, sau khi chết và tái sinh cũng là một lĩnh vực đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều giáo sư tâm lí học tại Đại học Virginia, Hoa Kỳ.

Thời gian gần đây, khi đã sưu tập gần như đầy đủ kinh điển của Phật giáo, tôi bắt đầu đọc lại kinh Phật một cách căn bản và có hệ thống hơn xưa. Trong lúc đọc kinh Phật, thỉnh thoảng, tôi tham khảo ý kiến cũng như kinh nghiệm của những học giả và hành giả có uy tín. Tối nay, khi đọc lại đoạn sau trong chương Những Điều Kiện Cần Thiết Khi Đọc Tụng Kinh Phật trong Cuốn Làm Thế Nào Để Trở Thành Một Bồ Tát Sáng Rực Khắp Bốn Phương, tôi vui sướng đến điên người.

“Ngôn ngữ của chư Phật và chư Bồ Tát là ngôn ngữ tự xóa mất trong từng chữ và từng tiếng để bất ngờ khai mở một thế giới vô tận và mới lạ, và chỉ khi nào cái bản ngã hạn hẹp của mình bị nghiền nát thành tro bụi thì may ra lúc ấy mới bừng sáng lên tất cả chân thực nghĩa vô lượng của Như Lai.

Mình phải đọc tụng kinh Phật với tất cả tinh thần khẩn trương của một kẻ bị xử tử hình đang quì cúi lạy trong xà lim tối đen, đang lắng nghe sự im lặng trườn mình qua nỗi chết sắp đến...

Mình cũng có thể đọc tụng kinh Phật như người đã bị tước đoạt mất hết tất cả trong đời sống, và bỗng nhiên bất thần lại được tìm thấy một kho tàng trân bảo vô lượng trước mắt mình; niềm vui sướng vô tận, cơn khoái lạc tràn trề tràn ngập cả thể xác lẫn tinh thần mà trọn cả đời người chưa bao giờ có được cảm thức phi thường như vậy.”

Những dòng chữ trên đã khiến tôi nghĩ ngợi, dù có vẻ điên rồ nhưng mình phải theo con đường này cho đến hơi thở cuối cùng, dẫu nghèo khó và cô đơn có thể rình rập.

Sau khi Phạm Công Thiện qua đời vào năm 2011, đã có quá nhiều người viết bài ca ngợi và xưng tụng ông. Ở đây tôi không làm chuyện trùng lặp này, tôi chỉ muốn nói rằng, nhờ ông nên tôi hiểu về Triết học Tây Phương, về Thiền Tông, về Mật Tông Tây Tạng và gần đây nhất là Tịnh Độ Tông - một pháp môn Niệm Phật mà trước đây tôi từng coi thường. Tôi luôn luôn xem ông là bậc thầy, là bậc thiện tri thức, là người đã mở đôi mắt mù lòa, đã gột đi từng lớp vô minh và ngu dốt của tôi. Với ông, tôi là kẻ thọ ơn! Bài viết này được viết ra để tạ ơn ông - một trong những người đã dẫn dắt tôi vào thế giới mênh mông bất tận của Phật Đạo.

Tam Kỳ, 12 giờ đêm ngày 23/05/2015


Thứ Ba, 19 tháng 5, 2015

ĐÔI DÒNG VỀ PHẬT QUANG ĐẠI TỪ ĐIỂN

Vượt lên những nỗi khổ đau của thế giới điêu linh, vút cao giữa đổ nát hoang tàn của những thành quách cũ, lướt qua bao lớp sóng phế hưng của vô số triều đại, từ đỉnh cao giác ngộ Đức Phật nhìn xuống dòng đời mênh mang, nở nụ cười từ bi và cứu độ chúng sinh thoát khỏi nhất thiết khổ ách. Hơn hai ngàn năm trăm năm đã trôi qua, cho đến tận bây giờ và mãi mãi về sau - nếu loài người còn có mặt trên trái đất - những pháp bảo của Ngài vẫn là phước báu đối với những ai muốn vượt lên cái nhất thời và tìm đến sự Vĩnh Cửu.
Qua nhiều năm khép lại những bộ kinh Phật để lo toan những công việc đời thường, gần đây chàng đã cúi đầu, từ tốn và nhẹ nhàng giở lại từng trang kinh Phật. Khi còn trai trẻ, chàng đã đọc giáo pháp của Đức Phật một cách vội vã, đọc nhưng tâm trí còn nghĩ đến chuyện khác, và bởi bao hệ lụy vây quanh nên tuy cũng hiểu được kinh điển nhưng chàng chưa thực hành nhiều lắm. Ngày xưa, lúc mới đọc được năm, sáu chục cuốn sách về Phật giáo, về Thiền Tông, Mật Tông Tây Tạng và vài bộ kinh Phật, dẫu không nói ra nhưng chàng luôn tự cho mình là hiểu sâu đạo Phật. Đó chính là sự kiêu ngạo, kiêu ngạo một cách ngu muội! Mới đây, khi sưu tập gần như đầy đủ những bộ kinh quan trọng của Phật giáo (khoảng tám mươi pho kinh điển đạo Phật, tương đương bốn mươi ngàn trang giấy chi chít chữ), chàng đã biết khiêm tốn hơn. Hôm nay, chàng bắt đầu bò trên từng trang kinh và trườn tới như đứa trẻ mới biết bò biết lẫy. Chàng là đứa con nít đang bò, dần dần tập đi, tập chạy, tập bơi và sẽ vùng vẫy trong cái biển cả mênh mông những pháp thoại ấy. Đọc kinh Phật là đọc chính mình, là gột đi từng lớp si mê ám chướng, là lọc sạch vọng tưởng điên đảo, là soi sáng những hố thẳm âm u trong tâm thức, là chuyển hóa tâm hồn, là trải rộng lòng yêu thương... và tìm thấy niềm an lạc vô biên. Niềm an lạc siêu tuyệt mà nếu đem tất cả khoái lạc của thế gian cộng lại cũng không thể nào sánh nổi.
Trở ngại lớn lao đầu tiên khi đọc thẳng vào kinh điển mà không qua bất cứ luận giải nào của các học giả hoặc hành giả Phật giáo là vấn đề ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong kinh điển Phật giáo phần lớn được dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán, rồi từ chữ Hán sang tiếng Việt. Cách sử dụng ngôn ngữ trong kinh điển cũng không thống nhất, cùng một từ tiếng Phạn mà người dịch của Trung Hoa thời trước mỗi người dịch mỗi khác, cũng cùng một từ tiếng Hán mà dịch giả của Việt Nam dịch ra tiếng Việt mỗi khác. Dù đã dịch ra tiếng Việt nhưng ngôn ngữ trong kinh điển rất cổ kính và hàm súc. Nếu nghiền ngẫm kinh điển mà không có từ điển Phật học để tra cứu thì phải đành bỏ cuộc. Do chiến tranh loạn lạc, do xáo trộn của thời cuộc, mãi cho đến năm 1975 nước Việt chỉ có một bộ từ điển Phật học duy nhất của cư sĩ Đoàn Trung Còn. Từ sau 1975 đến nay, rải rác có xuất bản thêm vài bộ từ điển nữa nhưng từ ngữ cũng còn nghèo nàn và thiếu sót, bởi đó là những công trình của cá nhân hoặc của một nhóm chỉ vài ba người. Ngày hôm nay, Phật Quang Đại Từ Điển đã giải quyết được vấn đề khó khăn ấy.
Tăng ni sinh và người nghiên cứu Phật học ở Việt Nam luôn chờ mong bộ từ điển đồ sộ và công phu có tên là Phật Quang Đại Từ Điển được dịch ta tiếng Việt. Phật Quang Đại Từ Điển là bộ từ điển Phật học đầy đủ nhất từ trước cho đến nay trên thế giới. Bộ đại từ điển này đã được năm mươi học giả Đài Loan bỏ công biên soạn từ năm 1978 đến năm 1988, đúng y mười năm trời. Bộ đại từ điển đã được Hòa thượng Thích Quảng Độ - một tên tuổi lớn của Phật giáo Việt Nam - dịch trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn, thầy bắt đầu dịch vào năm 1990 và hoàn thành vào năm 1997. Vì nhiều lí do tế nhị, bộ đại từ điển này không được xuất bản trong nước nhưng lại được xuất bản tại Đài Loan năm 2000 và tại Pháp năm 2012. Thật hi hữu, vào cuối năm 2014 Phật Quang Đại Từ Điển bản tiếng Việt được cho phép ấn hành tại Việt Nam. Phật Quang Đại Từ Điển gồm 8 cuốn, gần 10.000 trang với 22.608 từ và bảy triệu chữ giải thích các từ.
Cách đây vài ngày, chàng đã sở hữu báu vật vô giá này và đã đặt nó vào vị trí trang trọng nhất trong nhà. Chưa kể đến sự thu hút của nội dung phong nhiêu và giàu có, về mặt hình thức đây là một ấn bản hoàn hảo. Là một người chơi sách - chỉ chơi một cách tài tử - chàng công nhận nó tuyệt đẹp. Phật Quang Đại Từ Điển đẹp từ bìa sách, từ loại giấy chuyên dụng chỉ dành cho từ điển được nhập của Hà Lan, cho đến độ sắc sảo của từng con chữ bé xíu. Chàng mân mê, vuốt ve, ngắm nghía nó hoài không chán! Biết rằng nó cũng vô thường như bao sự vật khác, sẽ hư hoại và tan biến theo thời gian nhưng những phiên bản như nó sẽ trường tồn mãi mãi.


Dưới đây là trích đoạn trong bài giới thiệu về bản dịch Phật Quang Đại Từ Điển của thi sĩ Thi Vũ - người chịu trách nhiệm xuất bản Phật Quang Đại Từ Điển tại Paris năm 2012.
"Vừa thoát ách Pháp thuộc, liền bị rơi ngay vào chiến tranh rồi tranh chấp đến nay, dồn dập suốt 67 năm ròng. Nước ta chưa hình thành Hàn lâm viện để định chế ngữ văn trên bước tiến hóa của nhân loại, và sự đổi thay chuyển biến mỗi ngày trong cộng đồng dân tộc. Long đong theo những loạn động của thời thế, văn hóa và ngữ học mắc phải hệ lụy chưa biết ngày nào thoát thân.
.....
Phải đọc công trình dịch thuật Phật Quang Đại Từ điển mới thấy học thuật Hòa thượng thâm viễn, ngôn ngữ phong phú, sáng tạo, và thù ứng với các từ Hán, Phạn tương đương. Tinh thông, nhuần nhuyễn, thanh thoát qua từng câu văn. Không còn là một tác phẩm dịch thuật, mà là tác phẩm văn chương trong lĩnh vực triết học và tư tưởng Phật giáo qua ngôn ngữ Việt. Vừa tường giải, vừa đối chiếu, mỗi từ mục là một bài thâm nhập giáo lý siêu thoát nhưng thực chứng của đạo Phật.
.........
Người ở xa nước, không được gần gũi chư Tăng Ni, Thiện tri thức thông hiểu giáo lý, có bộ Phật Quang Đại Từ điển trong tay sẽ như được sống bên vị Thầy cao cả về đường Phật lý. Và điều chắc chắn, sẽ không bao giờ bị xa lìa với chân ngữ của đạo Phật, hay bị suy diễn đạo Giác ngộ thành loạn tưởng của tà giáo vào thời Mạt pháp hôm nay.
Tiền đồ Phật học Việt Nam có phát huy, tiến bộ chăng, phần lớn sẽ nhờ vào bộ Phật Quang Đại Từ điển bản dịch Việt văn của Hòa thượng Thích Quảng Độ. Và cũng sẽ là tiền đề cho sự rộ nở của triết học, của tư tưởng Việt Nam còn sơ khai hôm nay. Nhớ lại hồi thế kỷ VII Tây lịch, thánh tăng Huyền Trang bỏ 15 năm trường, xuyên sa mạc Gobi hoang vắng, hiểm nghèo, sang Ấn độ thỉnh Kinh Phật. Về nước ngài phiên dịch ra Hán văn dưới thời Đường. Tiếp sau những dịch phẩm của ngài Kumârajîva (Cưu ma la thập) đời Đông Tấn thế kỷ V, các bản dịch của ngài Huyền Trang với óc sáng tạo dồi dào, chữ nghĩa độc đáo, thâm huyền, làm rộ nở, phong phú, đổi mới văn học, ngôn ngữ và tư tưởng Trung quốc.
Sẽ lợi ích biết bao cho hàng chục nghìn Tăng, Ni, hàng triệu người học Phật trong nước, nếu Phật Quang Đại Từ điển được xuất bản tại Việt Nam. Thế nhưng nhà đương quyền đặt điều kiện muốn in phải xóa bỏ tên dịch giả, Thích Quảng Độ. Vì vậy, năm 2000, Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh thuộc Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc cho xuất bản lần đầu tại Đài Loan. Nay đã tuyệt bản. Do nhu cầu học hỏi của Phật tử Việt Nam trên năm châu đòi hỏi, và được Hòa thượng Thích Quảng Độ ủy quyền, tôi hân hoan thúc đẩy Nhà xuất bản Quê Mẹ ở Paris ấn hành Phật Quang Đại Từ điển vào mùa thu năm nay, 2012, gồm 6 tập, dày 7374 trang."


Paris, ngày 7.6.2012
Thi Vũ